| Người gửi |
|
thienngo Ngành Thanh


Thành viên từ: 29/08/2006 Quốc tịch: Vietnam Bài viết: 212
|
Bài: 07/12/2006 lúc 07:00 | IP Logged
|
|
|
Chủ đề sẽ được cập nhật thường xuyên, các bạn chú ý theo dõi. Mong các bạn có bài cùng chủ đề xin tại lên đây để trang học Phật Pháp được đầy đủ hơn.
Hiện đã cập nhật được 13 bài.
Bài 1 - TAM BẢO
Tam Bảo: Phật, Pháp và Tăng, là ba ngôi quí báu hơn hết không ai có thể sánh bằng.
I- Phật-Bảo:
1-Đ ịnh danh: Phật tiếng Phạn (buddha) là Phật- Đà, có ba nghĩa:
-Tự giác: tự mình đã giác-ngộ,
-Giác tha: giác ngộ cho mọi loài cũng đồng giác ngộ như mình.
-Giác hạnh viên mãn: hai công hạnh trên hoàn toàn viên mãn. Từ trước đến nay, có nhiều vị như vậy, như Đức Phật A-Di-Đà, Đức Phật Dược-Sư, Đức Phật Di-Lặc v.v..
2- Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni: Đức Phật đem giáo pháp dạy chúng ta là Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni. Chúng ta goi Ngài là Đức Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật.
3-Tướng tốt của Đức Phật: Do công hạnh tu tập Ngài có 32 tướng tốt; trên đầu có nhục kế biểu hiệu trí-huệ hoàn toàn, thân-thể và trên đầu có hào-quang (trí-huệ sáng suốt), hai tai dài (thọ mạng lâu dài). Mặt tròn như trăng rằm, khác với gương mặt chúng sanh, hai mắt trong xanh như nước biển, giữa hai chân mày có một sợi dài trắng uyễn chuyển như núi Tu-Di, giữa ngục có chữ Vạn, chân tay tròn đầy, da mịn bao bọc, dưới chân có 1.000 xoáy tròn, v.v...
4- Đức hạnh trí-huệ của Đức Phật: Đức Phật đầy đủ năm hạnh tinh-tấn, hỷ-xả, thanh-tịnh, trí-huệ và từ-bi.
-Tinh tấn: Tu khổ-hạnh 6 năm, ngồi thuyền-định 49 ngày dưới cây Bồ-đề, giáo-hóa hơn 49 năm, chịu cực-khổ đói rét. Trải qua nhiều gian-lao cực-khổ Ngài vẫn cương quyết tìm đạo giáo-hóa chúng-sanh không thối chí.
-Hỷ-xả: Hy-sinh quốc thành thê tử tìm đạo cứu chúng-sanh không một niệm luyến tiếc. Trải qua các sự gian-lao, Ngài vẫn hoan-hỷ hành-đạo, không một niệm thối chuyển.
-Thanh-tịnh: Thân-thể ánh sắc vàng trong trắng như lưu-ly. Lời nói chơn-thành đúng chơn-lý; không nói lời độc-ác hay nói dối; luôn luôn hòa-nhã êm-dịu. Tâm-hồn ý-nghĩ thanh tịnh không có tham, sân, si, kiêu-mạn.
-Trí-huệ: Trí-huệ của Đức Phật hoàn-toàn, hiểu biết cùng khắp thông suốt hiểu thấu căn-cơ chúng-sanh, rõ biết vạn vật. Từ-bi: Đức Phật có lòng từ-bi vô-lượng, thương xót cứu độ cho tất cả chúng-sanh, từ loài người cho đến loài vật, không loài nào là không cứu-độ.
II. Pháp Bảo:
1- Định danh: Pháp là lời dạy của Đức Phật hoặc các vị Bồ-tát vâng theo lời Phật mà nói hoặc các vị Tổ-sư làm ra. Lời dạy tuyên dương chơn-lý, có thể đưa mọi loài thoát khổ được vui, nên gọi là Pháp bảo, là pháp tôn-quý nhất trên đời.
2-Các món Pháp-Bảo: Pháp-bảo gồm có ba món:
Kinh là lời dạy của Đức-Phật, của các vị Bồ tát vâng theo lời Phật dạy mà nói, như Kinh Lăng-Nghiêm, Kinh 49 Chương, v.v..
Luật: là những giới luật do đức Phật thân chế cho hàng xuất gia, tại gia tu hành, như năm giới của Ưu-Bà-Tắc, Ưu-Bà-Di; 10 giới cho Sa-Di; 250 giới cho hàng Tỳ-kheo, v.v..
Luận: là lời luận bàn về kinh-điển của các vị Tổ-sư, nói rộng các yếu-nghĩa trong kinh và luật cho dễ hiểu như Luận Khởi-Tín, Luận Nhơn-Minh, v.v...
3- Đặc tánh của Pháp Bảo: Quý nhất trên đời. Nhờ Pháp bảo, chúng-sanh chứng được lý, trừ khổ, được vui, được giải thoát. Ðúng sự thật đúng chơn lý: Lời Phật daỵ, lời các vị Tổ sư đều đúng với sự Thật, đúng với sự hiểu biết chơn-chánh. Hợp với căn-cơ của mọi loài, mọi người . Hợp với trình độ, hợp với tâm tánh của từng người, từng loài
III. Tăng bảo:
1-Đ ịnh danh: Tăng-bảo là một đoàn-thể xuất-gia tu-hành theo Ðạo Phật, gồm ít nhất 4 người trở lên, và sống theo sáu pháp hòa-kỉnh.
2- Đặc tánh Tăng bảo: Quý nhất trên đời, vì là một đoàn thể tập sống đúng như lời Phật dạy, giữ giới luật oai-nghi, làm gương mẫu cho mọi người, chỉ dạy cho mọi người phương-pháp thoát khổ được vui. Sống đời thanh-tịnh, không có gia-đình vợ con, không theo danh-lợi, ăn chay đạm bạc, siêng tu khổ hạnh, giữ giới luật Phật dạy. Luôn luôn nghiên cứu kinh điển: ngủ ít học nhiều, suy tìm nghiên cứu để hiểu thấu lời Phật dạy, chứng thật được chơn lý. Làm gương sáng cho mọi người.
3-Các hàng Tăng chúng: Sa-Di là hàng Nam-tử xuất-gia giữ 10 giới, Sa-di Ni là hàng nữ nhân xuất gia giữ 10 giới. Thức xoa-ma-na là hàng học giới nữ giữ 6 giới và tập hạnh Tỷ-kheo-ni. Tỷ-kheo là hàng Nam-tử xuất-gia giữ 250 giới. Tỷ-kheo-Ni là hàng nữ nhân xuất gia giữ 350 giới.
IV. Kết luận:
Phật, Pháp, Tăng là ba món quý báu nhất trên đời đối với một người Phật-tử, là gương mẫu chơn chánh cho Phật-tử noi theo, là ruộng phước cho tất cả chúng-sanh gieo các hột giống tốt lành.
Sửa bởi thienngo trong 10/01/2007 lúc 07:31
|
| Lên trên |
|
| |
thienngo Ngành Thanh


Thành viên từ: 29/08/2006 Quốc tịch: Vietnam Bài viết: 212
|
Bài: 07/12/2006 lúc 07:01 | IP Logged
|
|
|
TAM QUY
Đ ỊNH-NGHĨA:
Quy là trở về: từ trước đi con đường sai lầm nay trở về con đường chánh; từ trước theo các hàng ngoại đạo, ác đảng, nay trở về với chơn lý, các bậc sáng-suốt, hiền-đức; từ trước ở trong trói buộc đau khổ nay về với giải-thoát an-vui. Y là nương tựa y-cứ, vâng theo và sống theo. Quy Y Phật-Pháp-Tăng là từ lời nói, ý-nghĩ cho đến việc làm nhất nhất đều y cứ nương tựa ba ngôi báu: Phật, Pháp và Tăng.
Quy-y Phật: Là trở về với Đức Phật không theo các thượng-đế tà-sư, không theo ma quỉ thiên thần; chỉ nương tựa y cứ theo Đức Phật mà sống, từ lời nói, ý-nghĩ cho đến việc làm nhất nhất đều y cứ vâng theo Ðức Phật, noi theo gương mẫu Phật mà làm.
Quy-y Pháp: Là trở về với Pháp Phật dạy, không theo các ngoại đạo tà-giáo; y cứ nương tựa theo những lời dạy của Đức Phật; từ lời nói, ý-nghĩ cho đến việc làm, nhất nhất đều y cứ tuân theo đúng như Pháp Phật.
Quy-y Tăng: Là trở về với Tăng-bảo, là đoàn thể Tăng già xuất-gia tu hành; không theo các bạn bè độc-ác có hại; từ lời nói, ý-nghĩ cho đến việc làm đều noi theo gương mẫu các vị xuất-gia hoặc theo lời chỉ bảo của các vị xuất-gia.
Lễ Quy-y: Lễ quy-y là phát nguyện trước Phật-Pháp-Tăng xin nguyện trọn đời quy-y Phật-Pháp-Tăng, thề quyết không theo các thượng-đế tà-sư, thiên-thần, quỉ vật, ngoại đạo, tà giáo, bạn bè độc ác. Có một vị xuất-gia chứng minh cho lời phát nguyện nầy và đặt cho một pháp danh, Vị chứng minh nầy sẽ thành vị bổn-sư của người phát nguyện làm lễ quy-y. Khi làm lễ quy-y rồi, mới chính-thức được gọi là Phật-tử.
Kết luận: Quy-y Phật-Pháp-Tăng là một hành động rất quan-trọng, định đoạt và cải-tạo hẳn đời sống của mình. Từ giờ phút làm lễ quy-y xong, là bước trên một con đường mới-mẻ luôn luôn được Phật-Pháp-Tăng soi sáng chỉ đường và che chở.
|
| Lên trên |
|
| |
thienngo Ngành Thanh


Thành viên từ: 29/08/2006 Quốc tịch: Vietnam Bài viết: 212
|
Bài: 07/12/2006 lúc 07:03 | IP Logged
|
|
|
LÝ NHÂN DUYÊN SANH
I-Ðịnh Nghĩa
Nhân là những món có năng lực phát sanh, duyên là những món hổ trợ giúp nhân phát sanh. Nhân duyên là một định lý nêu rõ mọi sự vật ở đời đều do các nhân duyên hội hợp mà hình thành phát sanh.
II-Ví Dụ
Như cái bàn do gỗ làm nhân và công thợ, đinh đóng ghép làm duyên hội họp thành cái bàn. Như cây lúa do hột lúa làm nhân và công cày bừa gieo tưới làm duyên, hội hợp thành cây lúa.
III-Những Ðặc Ðiểm Của Lý Nhân Duyên Sanh
Lý nhân duyên sanh là một ý định hiện thật nêu rõ sự hình thành phát sanh các pháp là do các nhân duyên hội họp. Ðịnh lý này đức Phật căn cứ trên cảnh thực tại để thuyết minh trình bày.
Lý nhân duyên sanh chi phối tất cả. Tất cả sự vật sai khác đều do các nhân duyên hội họp hình thành phát sanh: lý nhân duyên sanh chi phối tất cả, không một vật gì có thể thoát khỏi sự chi phối của lý nầy.
IV-Sự Ứng Dụng Của Lý Nhân Duyên Sanh
Nếu chúng ta đã hiểu lý nhân duyên sanh, chúng ta sẽ có được nhiều sự ứng dụng rất thiết thực.
Lý nhân duyên sanh cho chúng ta rõ chỉ có các nhân duyên, chớ không thấy thật có một sự vật nào, mà có nhân duyên kia cũng chỉ là sự vật, cũng chỉ vì nhân duyên hòa hợp mà thành, chớ cũng không thật.
Lý nhân duyên sanh nêu rõ sự tương quan của các pháp, các pháp hình thành toàn nhờ sự tương quan, tương duyên giữa các pháp. Trong các nhân duyên hội hợp hình thành một pháp, nếu có một nhân hay một duyên thay đổi thời pháp ấy cũng thay đổi.
Lý nhân duyên sanh cho chúng ta rõ mọi vật đều do nhân duyên giả dối hợp thành, chớ không phải tự nhiên mà có, và cũng không phải do một vị Thượng đế sáng tạo ra.
Lý nhân duyên sanh cho chúng ta rõ chúng ta tự chủ đời chúng ta, tương lai nằm trong tay chúng ta bởi vì đời chúng ta đẹp hay xấu, thiện hay ác, hoàn toàn do những nhân duyên chúng ta tự tạo tác.
V-Kết Luận
Lý nhân duyên sanh cho chúng ta rõ mọi vật chỉ là sự hình thành của các nhân duyên hội họp và nhờ vậy chúng ta hiểu được sự vật là như huyễn không chắc thật; một khi đã hiểu được các pháp ta có thể xây dựng an lạc hạnh phúc cho mình, cho mọi loài được sống tự tại và giải thoát.
|
| Lên trên |
|
| |
thienngo Ngành Thanh


Thành viên từ: 29/08/2006 Quốc tịch: Vietnam Bài viết: 212
|
Bài: 29/12/2006 lúc 07:06 | IP Logged
|
|
|
MỤC ÐÍCH CỦA GIA ÐÌNH PHẬT TỬ &
Ý NGHĨA HUY HIỆU HOA SEN
A. MỤC ÐÍCH CỦA GIA ÐÌNH PHẬT TỬ
Mục đích của Gia Ðình Phật tử là đào tạo Thanh- Thiếu- Đồng niên tin Phật, thành Phật tử chơn chánh, góp phần phụng sự Đạo pháp và xây dựng xã hội.
I-PHẬT TỬ CHƠN CHÁNH
Một Phật tử chơn chánh là một Phật tử quy y Phật, Pháp, Tăng; giữ giới đã phát nguyện và thựchành năm hạnh Tinh tấn, Hỷ xả, Thanh tịnh, Trí huệ và Từ bi.
Phật tử quy y Phật, Pháp, Tăng - là tôn Phật, Pháp, Tăng làm Thầy; trọn đời quy ngưỡng, y chỉ Phật, Pháp, Tăng; lời nói, ý nghĩ, việc làm đều hướng về Phật, Pháp, Tăng; không theo Thượng Ðế, tà sư, ngoại đạo, tà giáo; không theo bè đảng độc ác.
Giữ giới đã phát nguyện - Giới là những giới luật của đức Phật chế, như năm giới của người tại gia. Trong năm giới ấy, tùy nguyện tùy sức đã thọ lãnh giới nào thời triệt để giữ giới ấy, không lúc nào phạm. Nếu trái phạm thời phải làm lễ sám hối rồi cầu xin giữ lại.
Sống theo năm hạnh - Tinh tấn, Hỷ xả, Thanh tịnh, Trí huệ và Từ bi.
1-Tinh tẩn: Nghĩa là luôn luôn tiến trên con đường trong sạch tinh tuần (tinh), trên con đường đến mục đích của Ðoàn, trên con đường Ðạo. Tượng trưng hạnh Tinh tấn là đức Phật Thích Ca Mâu Ni, hy sinh gia đình, ngôi báu, vợ con, danh lợi để dấn thân trên đường Ðạo, tu khổ hạnh trong sáu năm, ngồi thuyền định 49 ngày; rồi sau khi thành Ðạo, lại đi thuyết pháp giáo hóa hơn bốn mươi chín năm, cứu toàn thể chúng sanh thoát khỏi mọi điều thống khổ.
Một thiếu niên, thiếu nữ sống theo hạnh tinh tấn là luôn luôn tinh tấn thực hành các hạnh Hỷ xả, Thanh tịnh, Trí huệ và Từ bi. Trái với hạnh Tinh tấn là biếng nhác trên đường Ðạo, trong bổn phận của mình.
2. Hỷ xả: Nghĩa là luôn luôn vui vẻ hoan hỷ, làm mọi người mọi loài vui vẻ hoan hỷ, sống phóng xả hy sinh.
· Gặp việc buồn, dữ, hoặc bệnh tật, không than khóc hay quá lo buồn, sợ hãi.
· Thấy người làm việc lành hoặc được người khen thì vui vẻ, tán thành, không ganh ghét tức bực.
· Thấy người gặp việc buồn khổ, thì khuyên giải... Gặp người xúc phạm, không tức giận, mắng nhiếc, đánh đập. Trái lại, dùng lời từ hòa giảng dụ giải thích; nếu không được thì nhẫn nhịn.
· Biết hy sinh cho mọi người, mọi loài.
Hỷ xả không có nghĩa là vui vẻ trẻ trung, cười nói ồn ào. Hỷ xả là hạnh của một tâm hồn trong sạch, yêu đời, thương mọi loài, điềm tĩnh và biết hy sinh. Một thiếu niên, thiếu nữ sống theo hạnh hỷ xả là có một gương mặt tươi trẻ, một cặp mắt trong sáng, một nụ cười hiền hòa; và trong tự thân tỏa ra sức mạnh khiến mọi người hoan hỷ hy sinh theo mình. Tượng trưng hạnh Hỷ xả là đức Phật Di Lặc, một đức Phật có một lòng thương rộng lớn cao cả, một gương mặt luôn luôn tươi cười.
3-Thanh tịnh: Nghĩa là trong sạch thân thể, trong sạch lời nói, ý nghĩ, việc làm và sống một cuộc đời giản dị thanh bạch.
· Trong sạch trong thân thể, là thân hình sạch sẽ tóc chải tử tế, áo quần tề chỉnh, bao giờ cũng vậy.
· Trong sạch trong lời nói, là không nói lời giả dối, độc ác, thêu dệt, chải chuốt, nói hai lưỡi. Chỉ nói lời thành thật, từ hòa, giản dị và chánh trực.
· Trong sạch trong ý nghĩ, là không các tánh tham, sân si; tư tưởng trong sạch chơn chánh.
· Trong sạch trong việc làm, là cử chỉ việc làm chơn chánh.
· Sống giản dị, là sống thanh bạch giản dị, đạm bạc; không xa hoa, phù phiếm.
Một thiếu niên, thiếu nữ sống theo hạnh Thanh tịnh là thân thể áo quần luôn luôn sạch sẽ tề chỉnh, lời nói, ý nghĩ, việc làm, luôn luôn trong sạch và sống cuộc đời giản dị thanh bạch.
Tượng trưng hạnh Thanh tịnh là đức Phật A-Di-Ðà, một đức Phật có hào quang vô lượng, thọ mạng vô lượng, hai quả đức do nhơn hạnh hoàn toàn thanh tịnh; và cảnh giới của đức Phật A-Di-Ðà hóa độ chúng sanh là cảnh Tịnh độ, một cõi hoàn toàn trong sạch đẹp đẽ.
4-Trí huệ: Là hiểu biết đúng đắn, cùng khắp tất cả. Hiểu biết đúng đắn là sự thật cảnh vật như thế nào, thì hiểu đúng như vậy không sai lầm. hiểu biết cùng khắp là hiếu hiết rộng rãi.
Một thiếu niên, thiếu nữ sống theo hạnh Trí huệ là phải học hiểu những điều phải học đúng theo chương trình, phải học hiểu Phật Pháp đúng theo thứ bậc của mình. Tượng trưng hạnh Trí huệ là đức Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, một vị Bồ Tát có trí huệ bậc nhất, tiêu biểu cho trí căn bản, và thường thay thế đức Phật khai sáng trí huệ cho mọi loài. Õ
5-Từ bi: là đem vui cứu khổ cho mọi loài. Ðem vui là gieo sự vui vẻ như người đọc sách, đem sách tặng khiến cho vui vẻ, hoặc dùng lời nói hòa nhã giảng đạo khiến cho vui vẻ.
Cứu khổ : Là trừ những nỗi đau khổ cho mọi loài, như đối với người khổ vì đói khát thì bố thí các món ăn uống cho hết khổ... Một thiếu niên, thiếu nữ sống theo hạnh Từ bi là luôn luôn cứu giúp mọi loài, mọi người sống hạnh phúc. Tượng trưng hạnh Từ bi là đức Quán Thế Âm Bồ tát, một vị Bồ tát hiện thân cứu khổ cứu nạn cho mọi loài, luôn luôn thương tưởng, cứu cho tất cả chúng sanh.
II. Góp phần phụng sự Đạo pháp, xây dựng xã hội
Ðã sống theo đạo Phật, Phật tử có trách nhiệm cải hóa đời của mình, của người thân, bạn bè chung quanh mình cùng sống theo tinh thần Bi-Trí-Dũng của đạo Phật. Mỗi Phật tử phải là một năng lực cải tạo, một sức mạnh cảm hóa, để chuyển đổi mọi hoàn cảnh, mọi người, mọi loài, trong tất cả thời, khắp tất cả chỗ.
B. HUY HIỆU HOA SEN
Huy hiệu của gia đình Phật tử là dấu hiệu tròn Hoa sen trắng, có tám cánh trên nền màu xanh lá mạ.
1. Hình tròn tượng trưng cho đạo Phật viên dung, hoàn toàn, vô ngại.
2. Sen trắng tượng trưng cho ánh sáng của Trí huệ: hoàn toàn (giác ngộ), và cho ánh sáng của hạnh Thanh tịnh hoàn toàn (giải thoát).
3. Tám cánh sen chỉ rõ mục đích của Gia Ðình Phật tử: 5 cánh trên chỉ cho các hạnh Tinh tấn (cánh giữa), Hỷ xả, Thanh tịnh, (2 cánh bên trái, bên mặt cánh giữa, ở ngoài ngó vào), Trí huệ và Từ bi (bên trái cánh Hỷ xả, bên phải cánh Thanh tịnh), 3 cánh dưới chỉ cho Phật (cánh giữa), Pháp (cánh phía trái ở ngoài ngó vào) và Tăng (cánh phía mặt).
4. Màu xanh là màu tương lai, màu hy vọng, màu của Thanh, Thiếu, Nhi Phật tử.
|
| Lên trên |
|
| |
thienngo Ngành Thanh


Thành viên từ: 29/08/2006 Quốc tịch: Vietnam Bài viết: 212
|
Bài: 29/12/2006 lúc 07:12 | IP Logged
|
|
|
CHÂM NGÔN VÀ NĂM ĐIỀU LUẬT
CỦA GIA ĐÌNH PHẬT TỬ
A. CHÂM NGÔN BI- TRÍ – DŨNG
BI - Là cho vui, cứu khổ, diệt trừ mọi nỗi thống khổ cho chúng sanh. Đạo Phật là đạo Từ bi, Đức Phật là hiện thân của Từ bi, nên Phật tử phải là người thực hành hạnh Từ bi, đem vui cứu khổ cho mọi loài Người Phật tử cố gắng không làm đau khổ một ai, dầu là đối với súc vật. Người Phật tử không thản nhiên trước sự đau khổ của muôn loài. Phật tử phải ra tay cứu giúp. Phật tử đến đâu cần phải cố gắng diệt trừ đau khổ, đem hạnh phúc an vui gieo rãi cùng khắp.
TRÍ - Là hiểu biết sáng suốt cùng khắp, nhận chân được sự thật. Đạo Phật là đạo Giác ngộ, Đức Phật là hiện thân của Giác Ngộ, nên Phật tử phải là người thực hành Trí huệ, luôn luôn tìm hiểu, hướng tiến đến sự thật. Người Phật tử không cam tâm chịu dốt chịu mê mờ. Phật tử phải tìm hiểu học hỏi, luôn luôn tìm chơn lý, Phật tử khai sáng cho mình và còn có bổn phận khai sáng cho người, tự mình tìm hiểu để bày vẽ cho mọi người tìm hiểu. Phật tử học Phật Pháp tức là học pháp như Thật để tìm hiểu sự Thật, tức là học những phương pháp sống như Thật để hướng tiến đúng mục đích như Thật.
DŨNG - Là dũng mãnh tinh tấn, không yếu đuối, hèn nhát, luôn luôn quả cảm, không giải đãi, gián đoạn. Đạo Phật là đạo Hùng lực. Đức Phật là đấng Đại hùng Đại lực, nên Phật tử phải là người anh dũng quả cảm luôn luôn tiến đến Giác ngộ, giải thoát của đạo Phật, luôn luôn đem vui cứu khổ cho muôn loài, luôn luôn tìm hiểu, học hỏi khai sáng trí huệ cho mình, cho mọi người. Người Phật tử cố gắng vượt qua mọi sự thử thách gian lao, mỉm cười trước nguy hiểm, tự tại trước thất bại, vững chí cương quyết, dũng tiến trên con đường đạo.
B. NĂM ĐIỀU LUẬT CỦA GIA ĐÌNH PHẬT TỬ
1- Phật tử quy y Phật, Pháp, Tăng và giữ giới đã phát nguyện.
2- Phật tử mở rộng lòng thương tôn trọng sự sống.
3- Phật tử trau dồi trí huệ, tôn trọng sự thật.
4- Phật tử trong sạch từ thể chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm.
5- Phật tử sống hỷ xả để dũng tiến trên đường Ðạo.
GIẢI THÍCH:
1- Phật tử quy y Phật, Pháp, Tăng là tôn Phật, Pháp, Tăng làm thầy; trọn đời quy ngưỡng, y chỉ Phật, Pháp, Tăng; lời nói, ý nghĩ, việc làm điều hướng về Phật, Pháp, Tăng; không theo Thượng Đế, tà sư; không theo ngoại đạo, tà giáo; không theo bè đảng độc ác. Giữ giới đã phát nguyện: Giới là những giới luật của đức Phật chế như 5 giới của người tại gia. Trong năm giới ấy, tùy nguyện tùy sức đã thọ lãnh giới nào, thời triệt để giữ giới ấy, không lúc nào trái phạm. Nếu trái phạm thời phải làm lễ sám hối rồi cầu xin giữ lại.
2- Phật tử mở rộng lòng thương, tôn trọng sự sống - Phật tử thực hành hạnh Từ Bi, mở rộng lòng thương cùng khắp mọi người, mọi loài là tôn trọng sự sống của tất cả sinh vật. Phật tử không thương riêng thân mình, riêng gia đình của mình, mà phải mở rộng lòng thương cùng khắp mọi người, mọi gia-đình. Phật tử không thương riêng loài người mà còn thương yêu các loài sinh vật nữa. Phật tử tôn trọng sự sống nghĩa là không giết hại mạng sống của bất cứ sinh vật nào, mà còn phải bảo tồn, tôn trọng tất cả sự sống, dầu là sự sống của những sinh vật nhỏ nhiệm. Phật tử giữ giới không sát hại và ăn chay cũng là giữ điều luật nầy.
3- Phật tử trau dồi trí huệ tôn trọng sự Thật: Phật tử thực hành hạnh trí huệ bằng cách phát chiếu trí huệ và tôn trọng sự Thật. Phật tử dùng trí huệ để tìm hiểu học hỏi, dùng lý trí để xét đoán, không mê tín dị đoan. Đối với các học thuyết, Phật tử lấy trí phán đoán vô tư để tìm hiểu, nếu phải thì công nhận, nếu trái thì không tin theo. Đối với Phật Pháp, Phật tử hết sức tìm hiểu chơn nghĩa của Phật, dùng lý trí phân tích, thiệt nghiệm tìm hiểu để thực hành, để sống như lời Phật dạy, vì Phật tử nhận rõ rằng chỉ có sự thiệt hành mới phát sinh trí tuệ con người. Phật tử tôn trọng sự Thật nghĩa là biết phụng sự lẽ phải và sự thật. Phật tử sẽ không nói láo vì nói láo là nói lời trái với sự Thật. Phật tử không xuyên tạc sự thật để mưu cầu danh lợi hay để bênh vực lòng tự ái của mình.
4- Phật tử trong sạch từ thể chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm - Phật tử thực hành hạnh Thanh tịnh, hạnh hoa sen trong trắng; giữ gìn thân thể, lời nói, ý nghĩ, việc làm cho tinh sạch trong sáng. Phật tử giữ y phục, thân thể, sách vở, nhà cửa, sạch sẽ. Phật tử chỉ nói lời chân trực, hòa giải, như thật, nhu hòa. Phật tử không nghĩ, không làm các điều ác; chỉ nghĩ, chỉ làm những điều thiện có lợi mình và lợi người.
5- Phật tử sống hỷ xả để dũng tiến trên đường Ðạo - Phật tử thực hành hạnh Hỷ xã và Tinh tấn. Phật tử sống hỷ xả là luôn luôn hoan hỷ vui vẻ, dầu gặp những nghịch cảnh, trở lực. Phật tử vui vẻ hy sinh để giúp đỡ cứu khổ cho mọi người mọi loài, không để tâm ganh ghét thù hằn một ai. Phật tử tinh tấn trên đường đạo không dừng nghỉ, không thối thoát. Phàm làm việc gì thì làm đến kỳ cùng, cho đến khi thành tựu mới thôi. Dầu gặp thất bại, Phật tử không có quyền thối thoát, đình chỉ, rút lui. Dầu gặp nghịch cảnh trở lực, Phật tử phải luôn luôn gắng sức. Khi nào mục đích chưa thành tựu mỹ mãn người Phật tử vẫn phải hoan hỷ, xả bỏ tất cả, để dũng tiến trên đường Đạo sáng.
|
| Lên trên |
|
| |
thienngo Ngành Thanh


Thành viên từ: 29/08/2006 Quốc tịch: Vietnam Bài viết: 212
|
Bài: 29/12/2006 lúc 07:16 | IP Logged
|
|
|
Ý Nghĩa Lá Cờ Phật Giáo
Minh Đức - Bùi Ngọc Bách
I .- Nguồn gốc :
Người phác họa ra lá cờ Phật Giáo Thế Giới là ông Henry Steel Olcott, sinh ngày 2-8-1832 tại New Jersey, Hoa Kỳ và mất ngày 17-2-1907 tại Adgar, Ấn Ðộ. Ông nguyên là Đại Tá Hải Quân của Quân Đội Hoa Kỳ. Khoảng năm 1875, ông chưa hề học hỏi về giáo lý nhà Phật, nhưng khi cơ duyên đã tới, ông là phóng viên của tờ báo The New-York Daily Graphic, đã giao cho ông nhiệm vụ gặp một phụ nữ người Nga tên là Helena Petrovna Blavatsky (1831-1891), để viết bài về trường hợp bà nầy có những sự kiện huyền bí. Tại nông trại của Eddys ở New-York, hai người đã gặp nhau, từ đó bà Blavatsky đã hướng dẫn ông trên con đường đạo.
Bà H.P. Blavatsky, ông H.S. Olcott, ông W. Q. Judge là những nguời đã thành lập Hội Thông Thiên Học Mỹ Quốc ngày 17-11-1875, nay trở thành Hội Thông Thiên Học Quốc Tế, có 60 nước hội viên và trụ sở đặt tại Adgar, Ấn Ðộ.
Ông có công lớn nhất trong công cuộc chấn hưng Phật Giáo Tích Lan, từ đó nhà Phật học uyên thâm Anaragika Dharmapala nguời Tích Lan, môn đệ của Olcott, đã khôi phục nền Phật Giáo Ấn Độ ngày 21-1-1891, và cũng từ đó dần dần Phật Giáo truyền bá sang phương Tây, rồi lan tràn khắp thế giới.
Ông và bà Blavatsky thọ trì Tam quy, Ngũ giới với Thượng Tọa Bulatgama tại chùa Wijayananda có sự hiện diện của hàng ngàn chư Tăng, Ni, Phật Tử và gây xúc động mạnh mẽ cho những Phật Tử đã chứng kiến, vì đây là lần đầu tiên Giáo Hội Tăng Già Tích Lan làm lễ Quy y cho hai người Phật Tử Âu Mỹ.
Sự nghiệp truyền bá và chấn hưng Phật Giáo của ông không thể nói hết trong khuôn khổ bài nầy. Ông đã tổ chức những trường học Phật Giáo khắp xứ sở Tích Lan, từ thành thị tới thôn quê hẻo lánh. Số trường học lúc ban đầu chỉ có 46 trường (năm 1897) và 6 năm sau (1903), số trường học đã lên đến 174 trường, và đến năm 1940 đã có 429 trường, trong đó có 12 Trường Trung học được chính phủ tài trợ . Không chỉ riêng ở Tích Lan, ông còn vận động để mở các trường học Phật Giáo ở các quốc gia khác như Nhật Bản, Thái Lan, Miến Điện, Ấn Ðộ.
Năm 1889, ông cùng Thượng Tọa Susmangala, Tích Lan, phỏng theo sáu mầu hào quang của Đức Phật (xanh đậm, vàng, đỏ, trắng, cam và mầu tổng hợp của năm mầu này), đã phác họa ra mẫu cờ Phật Giáo. Về ý nghĩa, ông phát biểu như sau : "Nó có thể được các quốc gia Phật Giáo chấp nhận như một biểu tượng quốc tế cho tín ngưỡng của họ, giống như cây thánh giá đối với tín đồ Thiên chúa giáo ."
Lá cờ này được Tích Lan công nhận và treo tại các chùa ở xứ này trong ngày lễ Phật Đản từ năm 1889, và 61 nam sau, tại Đại hội Phật Giáo Thế Giới lần đầu tiên, tổ chức tại Colombo, thủ dô Tích Lan, từ ngày 25-5-1950 đến 8-6-1950 có 26 nước tham dự (1), phái doàn Phật Giáo Việt Nam do Thượng Tọa Tố Liên, Trụ trì chùa Quán Sứ Hà Nội làm đại biểu (2), Hội nghị đã thành lập Hội Liên Hữu Phật Giáo Thế Giới (The World Fellowship of Buddhists), và chọn lá cờ Phật Giáo Tích Lan làm cờ Phật Giáo Thế Giới.
Đến ngày 6-5-1951, tại chùa Từ Đàm, cố đô Huế, một Đại Hội Phật Giáo ba miền Bắc Trung Nam, gồm 51 đại biểu Tăng già và cư sĩ, sau 4 ngày họp, đã thành lập Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam Trong dịp nầy, Thượng Tọa Tố Liên đã tặng Ðại Hội lá cờ Phật Giáo Thế Giới, và đại hội đã chấp nhận lá cờ nầy cũng là cờ Phật Giáo Việt Nam.
Bằng một tâm hồn thiết tha với Ðạo Pháp, ròng rã suốt 38 năm, Phật tử Henry Steel Olcott đã dùng quãng đời quí báu của mình, để phục vụ tha nhân và ông mất ngày 17-2-1907 tại Adgar, quê hương Đức Phật. Lúc đó ông 75 tuổi.
II- Ý nghĩa của lá cờ Phật Giáo
Cờ Phật Giáo, trước hết là biểu trưng tinh thần thống nhất của PhậtTử trên toàn thế giới. Cờ Phật Giáo còn tượng trưng cho niềm Chánh tín và sự yêu chuộng hòa bình của mọi người con Phật .
Ngoài ra, cờ Phật Giáo còn có ý nghĩa cắt bỏ quan niệm cố chấp các ranh giới địa phương, gia tăng niềm hăng hái đoàn kết để phụng sự cho Ðạo Pháp và dân tộc.
Năm sắc theo chiều dọc : Xanh đậm, vàng, đỏ, trắng, cam, tuợng trưng cho hào quang chư Phật.
Năm sắc theo chiều ngang ( chiếm diện tích 1/6 lá cờ ) là mầu tổng hợp tượng trưng cho ánh sáng hào quang chư Phật. Ý nghĩa của màu sắc phân biệt là :
1.- Xanh đậm : Tượng trưng cho Định căn. Màu xanh tượng trưng cho sự rộng lớn, sáng suốt .
2.- Vàng lợt : Tượng trưng cho Niệm căn, vì có Chánh Niệm mới sanh Định và phát Huệ.
3.- Đỏ : Tượng trưng cho Tinh Tấn căn. Có tinh tấn mới khắc phục được mọi trở ngại, nghịch cảnh .
4.- Trắng : Tượng trưng cho Tín căn, niềm tin không lay chuyển, và có tín căn là có Nhân Duyên với chư Phật và nguồn gốc sanh ra muôn hạnh lành.
5.- Da cam : Tượng trưng cho Huệ căn. Khi có Tín, Tấn, Niệm, Định đầy đủ thì Tuệ sẽ phát sanh
6.- Màu tổng hợp : Tượng trưng cho tinh thần đoàn kết của Phật giáo đồ trên toàn thế giới.
III.-Kết luận :
Là Phật Tử, chúng ta luôn luôn tôn trọng và bảo vệ lá cờ Phật Giáo, vì trên hết, nó tượng trưng cho Phật Giáo, và cho tinh thần đoàn kết, bất phân biệt của tín đồ Phật Giáo trên toàn thế giới .
Ghi chú :
(1) 26 nước tham dự Đại Hội và trở nên Hội viên sáng lập Hội Phật Giáo Liên Hữu Thế Giới là : Anh, Ấn Ðộ, Bhutan, Đức, Hawai, Hong Kong, Kampuchea, Lào, Mã Lai, Miến Điện, Mỹ, Na Uy, Nam Dương, Nhật Bản, Nepal, Pháp, Phi Luật Tân, Sikkim, Tân Gia Ba, Tây Tạng, Thái Lan, Thụy Điển, Tích Lan, Triều Tiên, Trung Hoa và Việt Nam.
(2) Phái đoàn Việt Nam chỉ có 2 nguời: Thượng Tọa Tố Liên -- đại biểu chánh thức, và ông Phạm Chữ -- công chức Bộ Ngoại Giao Quốc Gia Việt Nam, tháp tùng theo làm Thông dịch viên.
|
| Lên trên |
|
| |
thienngo Ngành Thanh


Thành viên từ: 29/08/2006 Quốc tịch: Vietnam Bài viết: 212
|
Bài: 29/12/2006 lúc 07:18 | IP Logged
|
|
|
BÁT QUAN TRAI
I. ÐỊNH NGHĨA:\
Quan là đóng, Trai (Posadha) có nghĩa là qua 12 giờ trưa. Tám quan trai giới là sự giữ gìn cho thân tâm thanh tịnh trong 24 giờ bằng cách thực hiện tám giới luật sau:
- Không được sát sanh
- Không được trộm cướp
- Không được dâm dục
- Không được nói dối
- Không được uống rượu
- Không được trang điểm, thoa dầu thơm, múa hát và xem múa hát.
- Không được nằm giường cao rộng đẹp đẽ
- Không được ăn quá giờ ngọ.
Tu Tám Quan Trai có nghĩa là thệ nguyện tập sống cuộc đời của những bậc tu hành trong vòng 24 giờ bằng cách thọ trì tám giới nói trên.
II. HIỂU Rõ TÁM GIỚI:
- Không sát sanh: Ðem niềm vui đến với mọi loài, giúp chúng sanh sống hạnh phúc, tránh giết hại hoặc khuyên người khác đừng giết hại.
- Không trộm cắp: Không trộm cắp, không nghĩ đến sự trộm cướp và luôn nghĩ đến bố thí. Không làm cho người chung quanh đau khổ vì mất của cải của họ.
- Không dâm dục: Không hành động cũng như không nghĩ đến những điều dâm dục. Tâm được thanh tịnh, thân khỏi ô uế. Ðối với người bạn trăm năm, cùng những người chung quanh ta giữ đúng lễ, làm cho họ kính trọng.
- Không nói dối: Không nói sai, không nói thêu dệt, không nói hai chiều, không nói lời hung ác; khuyên răn những người chung quanh giữ giới; giữ chữ tín.
- Không uống rượu: Rượu là say mê, tối tăm trí não.
- Không được trang điểm, thoa dầu thơm, múa hát và đi xem múa hát. Quán về thân. Năm giác quan: tai, mắt, mũi, lưỡi, thân có thể mở đường cho chúng ta đến Niết Bàn hay vào địa ngục.
- Không được nằm giường cao đẹp, rộng lớn: Tập dần đức tính giản dị, đạm bạc.
- Không được ăn quá giờ ngọ: Trong luật Phật dạy: "Chư thiên ăn sớm mai, Phật ăn giờ ngọ, súc sanh ăn sau giờ ngọ, ngạ quỷ ăn tối. Chư Tăng học Phật phải ăn đúng giờ ngọ". Ăn đúng giờ ngọ được 5 điều lợi ích sau:
- Ít muốn tâm sai quấy
- Ít buồn ngủ
- Dễ được nhất tâm
- Ít hạ phong
- Thân được yên ổn và ít sanh bệnh.
III. CÁCH THỨC THỌ TÁM QUAN TRAI:
Pháp quan trai nên được tổ chức trong những ngày trai, hoặc trong những ngày nhàn rỗi, thời hạn 24 tiếng. Nên tổ chức tại một ngôi Chùa hoặc Niệm Phật đường thanh tịnh. Trong trường hợp không có Chùa hay Niệm Phật Ðường thì chúng ta có thể tổ chức tại nhà. Thọ giới Tám quan trai có thể:
- Giới sư truyền thọ: Có nghĩa là có thầy chững minh truyền thọ và chúng Tăng hộ niệm. Trước khi thọ giới phải tắm rửa sạch sẽ và làm lễ sám hối những tội lỗi đã phạm để thân tâm thanh tịnh, rồi các giới tử tự thân hành đến cầu thỉnh vị Chứng minh làm lễ bạch Phật cầu truyền thọ ba quy y và tám quan trai giới. Trong khi lễ, cần phải trang nghiêm thành kính nhứt tâm nghe vị Chứng minh truyền giới, trả lời những câu hỏi và đọc những lời phát nguyện do vị Chứng minh chỉ bày.
Trong ngày thọ tám quan trai giới, giới tử cần phải giữ gìn thân, khẩu, ý cho thanh tịnh, không được phạm giới và tự xem mình như đã xuất gia, nhất là không nghĩ việc ngoài đời. Siêng năng tụng kinh, niệm Phật không để tâm dong ruỗi bên ngoài mà cầu chư Phật gia hộ cho Bồ Ðề tâm ngày một tăng trưởng.
- Tự phát nguyện thọ trì: Nếu không có Tăng Chúng hoặc không thể đến Chùa có thể tự mình thọ trì Pháp quan trai này. Giới tử tự mình đứng trước bàn Phật đọc những câu tự mình thọ giới như sau:
Ðệ tử tên là ... quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, xin một ngày một đêm thọ Ưu Bà Tắc (hoặc Ưu Bà Di) tám phần trai giới. Như lai bậc Chí chơn chánh giác, là Thế Tôn của con. (3 lần).
Ðể tử quy y Phật rồi, quy y Pháp rồi, quy y Tăng rồi xin một ngày một đêm Ưu Bà Tắc (Ưu Bà Di) tám phần trai giới. Như Lai bậc chí chơn chánh giác là Thế Tôn của con (3 lần).
Như các Ðức Phật suốt đời không sát sanh, Ðể tử xin nguyện một ngày một đêm không sát sanh ...
Cho đến giới thứ tám cũng đọc như vậy. Cách tu tập cũng như cách trên.
IV. CôNG ÐỨC THỌ TÁM QUAN TRAI GIỚI:
Người thọ Tám quan trai giới nhờ hoàn cảnh thuận tiện tinh tấn tu hành nên ba nghiệp thanh tịnh không làm các nghiệp ác, đồng thời các điều thiện do đấy được phát triển. Nhờ thọ trì giới luật và chí tâm niệm Phật nên tâm trí được định tĩnh không còn vọng tưởng, gieo chủng tử vô lậu giải thoát. Ðức Phật dạy: "Người nào tinh tấn thọ trì Tám quan trai tức hiện tiền được tăng trưởng vô lậu phước huệ, sau lâm chung khỏi bị sa vào các đường ác, được sanh về thế giới Cực Lạc. Nếu đem công đức hồi hướng tất cả chúng sanh tức được phước quả vô lượng và chứng được quả Vô Thượng Chánh Giác".
V. KẾT LUẬN:
Người thọ Tám quan trai giới không còn làm bất cứ việc ác hại nào, cánh cửa ác đạo (địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh) bị đóng chặt lại. Vì không tự chủ được mình, vì vô minh che lấp, vì tham muốn nhục dục con người cứ mãi tạo bao điều ác nghiệp; cánh cửa tam ác đạo kia tự mở, rồi tự mình bước vào và chịu bao quả báo đau khổ. Tu Tám quan trai giới trong một ngày một đêm, thanh tịnh thân tâm, phòng hộ giữ mình, tuy chưa xuất ly tam giới ngay được, nhưng nhờ nương công đức trai giới này, gieo trồng hạt nhân xuất thế thù thắng, tương lai chắc chắn sẽ được giải thoát. Chư Phật vì muốn hóa độ chúng sanh nên chỉ bày pháp môn này, là Phật tử chúng ta cố gắng nương theo và tu tập.
|
| Lên trên |
|
| |
thienngo Ngành Thanh


Thành viên từ: 29/08/2006 Quốc tịch: Vietnam Bài viết: 212
|
Bài: 10/01/2007 lúc 07:14 | IP Logged
|
|
|
Bài 8- SỰ TÍCH ÐỨC PHẬT THÍCH CA (từ sơ sanh đến xuất gia)
I. Thân Thế của Thái Tử Tất Ðạt Ða
Ðức Phật Thích Ca tên là Tất Ðạt Ða, hiệu Thích Ca một nhánh của họ Kiều Tất La, một đại quý tộc ở Ấn độ. Hợp cả tên lẫn họ là Kiều Tất La Thích Ca Tất Ðạt Ða. Ngài là con vua Tịnh Phạn nước Ca tỳ-la-vệ. Mẹ Ngài là Ma-Gia hoàng hậu. Nước Ca-tỳ-la-vệ ở Ấn độ thời ấy là một nước rất phồn thịnh, nay tức là xứ Therai, ở phía đông bắc thành Ba-la-Nại, phía nam nước Népal.
II. Ngày và Chỗ Ðản Sanh Thái Tử
Thái tử sanh lúc mặt trời mọc, ngày rằm tháng hai Ấn-độ, tức là ngày rằm tháng tư theo lịch Tàu, vào năm 544 năm trước Tây-lịch. Như vậy đến năm 1962 là đúng với Phật-lịch 2,506. Ngài sanh dưới cây vô-ưu, trong vườn Lâm-Tỳ-Ni trong khi Bà Ma-Gia đang dạo chơi vườn cảnh.
III. Thái Tử và Lời Tiên Ðoán của A Tư Ðà
Khi Thái tử sanh có nhiều điềm rất lạ, trời mưa hoa thơm, nhạc trời chúc tụng, quả đất rung động. Thái tử sanh ra có 32 tướng tốt. Ông tiên A-Tư-Ðà đến đoán tướng Ngài nói rằng: ỗThái tử có đủ 32 tướng tốt, nếu làm vua thì làm vị Chuyển luân thánh vương; nếu xuất gia tu hành thì sẽ thành Phậtỗ.
IV. Sự Giáo Dục và Tài Năng của Thái Tử
Sau khi sanh Thái tử được 7 ngày thời bà Ma-Gia từ trần. Vua Tịnh Phạn giao Thái tử cho người dì tên là Ma-Ha-Ba-Xà-Bà-Ðề nuôi nấng chăm sóc. Vua hết sức lo sự giáo dục cho Thái tử. Ngài cho mời những bậc giáo-sư có tiếng nhất ở trong nước về văn cũng như về võ, Thái tử rất thông minh, chỉ học qua một lần đều thông hiểu, văn võ toàn tài không ai sánh kịp. Các vị giáo sư đều bái phục.
V. Ðời Sống của Thái Tử
Thái tử được vua Tịnh Phạn yêu quí, ngày ngày sống trong cảnh phong lưu sung sướng. Vua xây cho Thái tử những tòa lâu đài hợp với ba mùa của xứ Ấn-Ðộ. Mùa nóng có chỗ mát, mùa lạnh có chỗ ấm, mùa ôn-hòa có chỗ không nóng không lạnh. Cung điện trang hoàng cực kỳ mỹ lệ, vườn cảnh có đủ hoa thơm cỏ lạ. Vua Tịnh Phạn lại ban cho 500 thể nữ kiều diễm đêm ngày ca múa đàn hát; các món vui chơi trong nước, không còn thiếu một món gì. Tuy Thái tử sống trong xa hoa lộng lẫy, nhưng Ngài không bao giờ say đắm, trên mặt luôn luôn lộ một vẻ buồn kín đáo, thương người thương mọi vật. Tuy văn võ hơn người. Ngài vẫn khiêm tốn lễ độ, không kiêu căng tự đắc.
VI. Thái Tử Lập Gia Ðình
Ðến 17 tuổi, Ngài vâng theo lời của Phụ vương kết hôn với nàng Da-Du-Ðà-La. Theo tục quý phái xưa, Thái tử đã chiến thắng tất cả thanh niên đến dự các buổi thi và lựa nàng Da-Du là người tươi đẹp thuần thục nhất trong các Công chúa muốn được làm vợ ngài. Thái tử (và công chúa) sanh được một người con tên là La-Hầu-La.
VII.Thái Tử Tiếp Xúc Với Ðời
Vì có lời tiên đoán của ông A-Tư-Ðà, nên vua Tịnh Phạn không cho Thái tử tiếp xúc với cảnh khổ; nhưng vì Thái tử khẩn khoản cầu xin, vua Tịnh Phạn để cho Thái tử du ngoạn và tiếp xúc với thực trạng của cuộc đời.
· Cảnh khổ thứ nhất: Sống là khổ. Một hôm Ngài theo vua cha dự lễ cày cấy. Thấy người và vật vất vả, khổ đau dưới ánh nắng thiêu đốt để đổi lấy bát cơm, chim chóc dành nhau mổ ăn các loài côn trùng giẫy giụa trên luống đất mới. Ngài thương xót buồn rầu vô hạn. Ngài thương chúng sanh đau khổ vì sống, và vì món ăn phải giết lẫn nhau.
· Ba cảnh khổ của cuộc đời : Già, bịnh, chết. Lần sau Ngài lại xin phép Phụ vương ra cửa thành dạo chơi. Lần thứ nhứt Ngài gặp một ông già tiều tụy, da nhăn, lưng còm, mắt lòa, tai điếc. Lần thứ hai Ngài thấy một người tật bệnh bụng to cổ trướng rên la khổ sở. Lần thứ ba Ngài gặp một đám tang, thân nhân gào khóc thảm thiết. Ngài nhận hiểu được rằng: sống ở đời giàu nghèo sang hèn đều bị đau khổ đoanh vây áp bức: già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ.
VIII. Tâm Trạng của Thái Tử Sau Khi Tiếp Xúc Với Ðời
Trước thực trạng đau khổ của kiếp người, Ngài bị xúc động mạnh mẽ. Sau khi thấy sự đau khổ của chúng sanh, Ngài luôn luôn tưởng nghĩ đến chúng sanh, nghĩ đến những nỗi đọa-đày lầm than của chúng sanh, và Ngài luôn luôn trù nghĩ suy tầm phương pháp cứu chúng sanh thoát khỏi biển trầm luân khổ ải. Mặt Ngài thường hiện vẻ lo buồn trầm mặc. Ngài lo buồn cho chúng sanh, Ngài trầm mặc để tìm phương pháp cứu độ chúng sanh thoát khỏi đau khổ.
IX. Cánh Giải Thoát và Thái Tử Xuất Gia
· Cảnh giải thoát. Lần thứ tư ra dạo chơi ngoài cửa thành, Ngài gặp một Vị Sa-môn thanh cao bình-tỉnh. Ngài hỏi rằng: ỗNgài là ai?ỗ Vị Sa-môn đáp: "Tôi là người đã thoát khỏi sự đau khổ của già, đau, chếtỗ . Thái tử liền hiểu được rằng, chỉ xuất gia tìm đạo là phương pháp cứu chúng sanh thoát khỏi bể khổ mênh mông.
· Thái tử xuất gia. Một đêm kia, sau buổi yến tiệc linh đình, Ngài thừa lúc mọi người đang ngủ say, lặng lẽ ra khỏi cửa thành. Ngài định đánh thức bà Da-Du-Ðà-La ngõ đôi lời từ biệt, nhưng sợ lòng nhi-nữ hay bịn-rịn có thể ngăn trở ý-định, Ngài chỉ đành nhìn vợ con lần cuối cùng rồi gọi người hầu cận trung thành là Xa-Nặc, thắng ngựa Kiền Trắc, hai thầy trò ra đi, quân canh còn mãi ngủ chẳng hay biết gì cả. Ngài ra đi lúc 19 tuổi, vào ngày trăng tròn tháng hai.
X. Kết Luận
Cử chỉ của Ngài xuất gia là một gương sáng cho mọi người soi chung. Vì lòng thương chúng sanh, lòng thương nhân loại. Ngài đã bỏ cung điện giàu sang, giường cao nệm ấm, cao lương mỹ vị và cả ngôi báu. Cho đến vợ đẹp con yêu, Ngài cũng đành từ giã để đi tìm hạnh phúc chơn thật cho chúng sanh đang đau khổ. Cử chỉ của Ngài ra đi nhắc nhũ cho muôn loài biết rằng hạnh phúc không thể tìm trong danh vọng tài sắc, và những người thật thương yêu chúng sanh phải tìm chơn lý để soi sáng cho chúng sanh. Cử chỉ của Ngài lúc ra đi là cả một sức mạnh quyết tìm chơn lý, và chơn lý chỉ đến với những tâm hồn cao cả thoát tục, tràn đầy một lòng vị tha không bờ bến.
(Phật Pháp Ngành Thiếu; Thích Minh Châu, Thích Ðức Tâm, Thích Thiện Ân, Thích Chân Trí)
|
| Lên trên |
|
| |
thienngo Ngành Thanh


Thành viên từ: 29/08/2006 Quốc tịch: Vietnam Bài viết: 212
|
Bài: 10/01/2007 lúc 07:16 | IP Logged
|
|
|
Bài 9-
LỤC HÒA
- Thân hòa đồng trú: Chung một việc làm, chung sống một chỗ với nhau. Như các vị xuất-gia chung sống trong một chùa, y-phục giống nhau, công việc chung làm với nhau, bao giờ cũng đồng chung cả.
- Khẩu hòa, không cãi mắng nhau (Khẩu hòa vô tránh): không dùng lời nói thô-ác, cãi mắng nhau. Như các vị xuất gia trong một chùa không ai cãi mắng to tiếng với nhau. Có điều gì không đồng ý, thời cùng nhau lấy hòa nhã giải-thích biện-luận cho nhau đồng hiểu.
- Ý hòa đồng dung hiệp nhau (Ý hòa đồng duyệt): nghĩa là ý kiến dung hòa với nhau, không có mỗi người mỗi ý, khác với trong chúng. Như các vị xuất gia trong một chùa, làm việc gì cũng hỏi ý kiến nhau, sau khi toàn-thể thỏa-thuận mới thi hành.
- Giới hòa đồng tu với nhau (Giới hòa đồng tu): nghĩa là trong chúng đồng tuân theo, giữ theo những giới-luật: như các vị xuất-gia trong một ngôi chùa chung giữ những giới luật Phật chế, tùy theo hàng Tăng số của mình. Như chúng Sa-Di thời giữ 10 giới.
- Lợi hòa đồng phân chia với nhau (Lợi hòa đồng quân): nghĩa là có những quyền lợi gì thời đồng chia đều với nhau. Như trong một ngôi chùa, phàm có ai cúng vật gì, đều chia đồng đều trong chúng không có kẻ it người nhiều.
- Kiến hòa-đồng giải cho nhau hiểu (Kiến-hòa đồng giải): nghĩa là mọi sự hiểu biết đều đồng giải cho nhau cùng hiểu, như các vị xuất-gia trong một chùa, đều chung học giáo lý Ðức Phật và giúp nhau cùng hiểu giáo lý của Ðức Phật.
Kết luận: Chính Ðức Phật đã đặt ra sáu mòn Hòa-kỉnh nầy làm nguyên-tắc căn bản cho các bậc xuất gia chung sống với nhau; và chính các ngôi chùa, các Tòng-Lâm hàng trăm hàng ngàn Tăng-chúng đã sống đúng theo sáu món Hòa-kỉnh này. Sáu món Hòa-kỉnh là đem sự hòa đồng trong chúng, để cùng nhau sống theo lời dạy của Ðức Phật, tinh tấn trên con đường giải thoát và giác-ngộ của chư Phật.
(Phật Pháp Ngành Thiếu; Thích Minh Châu, Thích Ðức Tâm, Thích Thiện Ân, Thích Chân Trí)
|
| Lên trên |
|
| |
thienngo Ngành Thanh


Thành viên từ: 29/08/2006 Quốc tịch: Vietnam Bài viết: 212
|
Bài: 10/01/2007 lúc 07:17 | IP Logged
|
|
|
Bài 10
CẶP MẮT THÁI TỬ CÂU-NA-LA
(Chuyện Tiền Thân)
Thưở xưa ở Ấn độ có một ông vua tên là A-Dục trị dân rất công bình. Hồi còn trẻ, tính Ngài hay giận dữ, nhưng dần dần Ngài trở nên hiền từ dịu dàng. Nhờ gương sáng của Ngài, nhờ huấn dụ đưa ra, Ngài dạy cho dân tính nhã-nhặn đối với mọi người và lòng bác ái đối với kẻ khổ sở. Ngài lập bệnh viện để chữa người bị bệnh, lập công viên để người và vật có chỗ nghỉ ngơi, sai đào giếng để khách bộ hành và vật khỏi khát nước, sai trồng hai bên đường những cây ăn quả và cây để làm thuốc.
Người con đầu của Ngài có cặp mắt đẹp hiền từ như chim ỗCâu-Na-Laỗ vì thế người ta gọi chàng là Câu-Na-La. Ðức Vua rất đổi yêu mến Hoàng Hậu Liên Hoa là mẹ của Thái tử. Hoàng Hậu mất sớm. Nhưng Thái tử rất được vua cha yêu dấu và tin dùng. Lòng từ ái, tính dịu dàng và khiêm nhượng của Ngài làm nhân dân rất yêu mến và kính trọng. Vợ Ngài rất dịu dàng, bao giờ cũng làm vừa lòng Ngài, tên nàng là Ma-Ða-Vi.
Hoàng hậu mất, vua A-Dục lấy một người vợ kế kiêu căng độc ác tên là Xích-Di. Sau khi nàng sinh được một con, nàng ước ao nó sẽ được nối ngôi thay Câu-Na-La, và tuy không để lộ ra một cử chỉ gì, lòng nàng rất ghét người con ghẻ.
Nhân khi vua mắt bệnh nặng, các thầy thuốc đành chịu bó tay, nàng Xích-Di tìm cách chữa khỏi. Vua ngõ ý muốn tạ ơn nàng. Nàng xin vua cho nàng được nối ngôi. Thật éo-le cho vua A-Dục. Ngài lấy làm buồn rầu vì không chìu lòng ân nhân, và Ngài nhắc lại lời hứa với Chánh hậu lúc lâm chung chỉ truyền ngôi cho Thái Tử Câu-Na-La mà thôi. Ngài nói: ỗTa có thể bỏ ngôi báu chứ không thể phụ lời hứa đượcỗ .
Thấy chuyện không thành, Xích-Di xin vua được cầm quyền chánh một ngày. Vua nghe lời, và nàng định sẽ nhân dịp ấy mà làm những việc ghê gớm.
Trong nước có một thành gọi là Ðắc-xô-thi-la nổi lên chống với quan cai trị của nhà vua. Chính Hoàng hậu Xích-Di cũng dính líu vào việc ấy. Thật thế, trước hết nàng cho các quan tiền rồi bảo lấy thuế dân thành ấy thật nặng, sau xúi dân nổi lên làm loạn. Hoàng hậu lại xúi dân nên yêu cầu vua cho Thái tử Câu-Na-La ra cai trị thành ấy, lấy cớ rằng chỉ có Thái tử là công bằng mới dẹp loạn được. Sáng hôm sau các đại biểu thành Ðắc-xô-thi-La đến để yêu cầu việc ấy, Xích-Di tâu vua cho được tự tiện dùng ấn của Ngài, là cái ấn dùng để niêm phong những sứ mệnh gởi đi. Thế tức là nàng được quyền hành trong ngày ấy.
Rồi các đại biểu đến, Hoàng hậu tán thành lời yêu cầu họ, tâu vua rằng chỉ có Hoàng tử được dân khâm phục và vì thế đưa dân đến chỗ bình an mà không có cuộc bạo động gì. Vua nghe lấy làm bối rối, vì Ngài nghi Hoàng hậu có man tâm.
Có gì nguy hiểm bằng sai Thái tử đến một thành phiến loạn.
Thấy vua lo âu. Hoàng hậu giả vờ đau đớn nói rằng: ỗNếu nhà vua còn nghi ngờ lòng nàng thì từ nay nàng không nói gì nữaỗ . Rồi nàng giả bộ giận dỗi trả ấn lại cho vua, vì nàng biết thế nào vua cũng không nỡ lấy lại. Thật thế, vua A-Dục trọng lời hứa không dám lấy ấn lại, Thái tử cũng một mực xin đi, Ngài phải bằng lòng. Nhưng muốn chắc chắn, Ngài định cho một đội quân đi hộ tống, Thái tử từ chối việc ấy. Vì Ngài nghĩ muốn tránh sự đổ máu, phải hành động rất mau; nếu đi với đại quân thì mất nhiều thì giờ. Ngài lại nói rằng: "Nào phải thấy gươm giáo như rừng, nghe tiếng ngựa hý, voi gầm, tiếng xe, tiếng trống, tiếng kèn, mà yên nhân tâm được đâuỗ .
Vua không nói gì nữa, Thái tử từ giã Ngài, từ giã nàng Ma-Ða-Vi rồi một mình cỡi con ngựa Măng-Ða-La phi đi mau như gió. Chàng có ngờ đâu sau lưng chàng có con kỵ mã đang phóng nước đại. Ðó là một người rất trung thành với Hoàng hậu, đương mang trong mình một sứ mạng có niêm ấn kỹ lưỡng.
Thái tử cỡi bạch mã đi mau như bay. Hai bên đường làng mạc núi đồi đồng lúa rừng xanh như thụt lui lại. Nhưng cái tên chàng đến còn nhanh hơn, vì nhân gian mong Ngài đến lắm. Họ sửa soạn tiếp chàng. Kẻ thì rắc hoa xuống đường, kẻ thì hái quả để tiến, đâu đâu cũng nỗi đầy tiếng hoan hô. Nhân dân xin Thái tử tha tội vì dân chúng không dám nổi lên chống vua, mà chỉ vì bọn tham quan ô lại. Nghe tiếng kêu van, Ngài lấy làm thương hại, tha lỗi và đi vào thành giữa tiếng nhạc vang lừng. Thái tử đặt lại thuế má, cho người công bình ra trị dân; dân lấy làm mừng rỡ và phái đại biểu về tâu vua tỏ bụng trung thành và ca tụng Thái tử đã đưa lại cho họ sự yên ổn.
Thàng Ðắc-xô-thi-la đang vui vẻ bỗng chiều ngày ấy người cỡi ngựa theo Thái tử vừa đến, và giao cho công chức trong thành một cái dụ. Mở ra xem ai nấy sửng sốt sợ hãi vì đạo dụ ra lệnh ỗ phải móc mắt Thái tử Câu-Na-La kẻ thù lợi hại của nhà vua và là kẻ đã làm nhơ nhuốc nòi giốngỗ . Ðạo dụ lại nói rằng khi đã làm hình phạt ấy rồi, không người dân nào được cứu giúp Thái tử và cấm không được nói đến tên Ngài nữa.
Các viên chức không dám cho Thái tử biết đạo dụ vô nhân đạo ấy. Sau một đêm lo ngại, họ nói với nhau rằng: ỗNếu ta không tuân lệnh sẽ bị nhiều nguy hiểm. Ðến Hoàng tử là người tốt đối với tất cả thiên hạ mà nhà vua còn bắt tội nữa là chúng ta ỗ .
Ngài mai họ dâng đạo dụ lên cho Hoàng tử. Ðọc xong, Ngài nói: ỗÐấy là chánh lệnh của nhà vua, vì có niêm ấn rõ ràng. Các người cứ thi hành theo lệnh ấyỗ .
Ngày cũng biết rằng vua cha chẳng bao giờ ra lệnh hành hình con, đó là do Hoàng Hậu, nhưng đã có niêm ấn thì phải tuân theo.
Dân gian được tin rằng mệnh lệnh sẽ thi hành tại một khoảng đất rộng, giữa thành phố. Ðến giờ, đao phủ được lệnh móc mắt Thái tử, nhưng bọn này chỉ cung kính chắp tay xin chịu: ỗChúng tôi không ai đủ can đảm làm việc ấyỗ .
Thái tử tháo chuổi ngọc mang trên đầu đưa cho đao phủ nói rằng: ỗÐây là tiền thưởng cho các người để làm tròn phận sựỗ . Chúng vẫn một mực từ chối. Sau cùng có một người hình thù quái gở, đến xin thay chân bọn đao phủ. Nhưng anh nầy cũng không có gan dùng tay móc mắt. Anh ta đến đống lửa lớn nung một thanh sắt đỏ lên rồi lại gần Thái tử. Thái tử ngồi tự nhiên để cho đâm vào cặp mắt. Cảnh tượng bấy giờ thật là đau đớn đến nỗi hàng nghìn người chung quanh đều khóc vang lên.
Hành hình xong, Thái tử một tay chống trên người kia một tay ra hiệu bảo người chung quanh yên lặng. Thái tử khuyên phải xa Ngài ra, không được cứu giúp Ngài và kêu tên Ngài, y như trong đạo lệnh. Họ cuối đầu vừa đi vừa khóc, trong khi ấy Thái tử nằm phục suống đất. Nghe nắng dọi nóng, Ngài lê đến một chỗ có bóng im mát để nghỉ.
Lâu lắm chung quanh Ngài yên tịnh không một tiếng động. Bỗng Ngài nghe tiếng chân ngựa giậm gần rồi có những tiếng kêu thảm thiết.
Nhận ra là con ngựa Măng-Ða-La, Ngài nói: "còn con nữa, con cũng nên bỏ thầy con".
Con ngựa quanh quẩn vài lần rồi đi xa, ra khỏi thành phố, một mình lủi-thủi trở lại con đường mà nó vui vẻ đưa Thái tử đi.
Mặt trời lặn. Một vài người động lòng muốn giúp Ngài. Song đã có lệnh cấm, họ đành đứng xa, nhìn nhau lắc đầu. Sau mãi một bà lão nghèo đi lại gần Ngài lấy nước rửa chỗ đau và lấy cỏ băng lại; bà đỡ Ngài dậy, dìu ra khỏi cổng làng rồi đành thở dài trở về.
Trong lúc Thái tử đang đau đớn, thì đại biểu thành Ðắc-xô-thi-la được vua tiếp đãi ân cần. Thấy nói Thái tử được hoan hô tôn trọng lòng nàng Ma-Ða-Vi cũng bớt lo sợ, vì nghe chồng nàng phải đi dẹp loạn, lòng nàng cũng áy-náy không yên.
Một ngày sau, sốt ruột, nàng đi đến chỗ nàng từ biệt chồng. Qua ngày thứ ba, nàng bỗng thấy con ngựa Măng-đa-la trở về một mình. Một tư tưởng ghê gớm thoáng qua óc nàng: rồi như cây gỗ bị đốn gốc, nàng ngã xuống bất tỉnh.
Tỉnh dậy, nàng nghĩ rằng có lẽ chồng nàng bị dân nổi lên giết chết. ỗSao ta lại không tin chồng ta còn sống? Nếu chưa tin được chắc chắn, sao không đi tìm chồngỗ . Nghĩ vậy, nàng không để mất một phút, trở về cung, trút bỏ đồ trang sức, ăn vận như một người thường dân rồi trốn đi tìm chồng, nàng không dám cho vua biết, sợ vua vì thương mà cầm lại chăng.
Nàng lủi thủi đi về phía thành Ðắc-xô-thi-la, ruột đau như cắt. Dọc đường gặp ai nàng cũng hỏi có gặp Thái tử không? Ði ngày này sang ngày khác chẳng được tin gì cả.
Một buổi sáng vừa ra khỏi chổ trú đêm, nàng liền gặp một người nông phu đang gieo mạ. Người ấy nói lúc rạng đông, nhân đi qua cánh rừng nhỏ thấy một người trẻ tuổi mắt mù, mặc áo ra dáng ông hoàng; người nông phu liền cho người mấy quả cây hái ăn trong rừng và một chén nước lã.
Nàng Ma-Ða-Vi liền đến chỗ ấy thì nàng thấy Câu-Na-La một mình trên viên đá. Nhưng đau đớn thay, cặp nhỡn tuyến của chàng đã tắt hẳn. Nàng khóc nức lên và quỳ trước chàng nghẹn ngào, cầm lấy tay chàng. Nghe nước mắt nhỏ xuống tay, Thái tử cảm động, đoán là nàng Ma-Ða-Vi, nhưng chưa dám tin. Ðến khi nghe rõ tiếng nàng không nghi ngờ gì nữa chàng bảo nàng ngồi xuống, trong lúc đang đau khổ ấy được gặp người thân yêu, nỗi vui mừng khôn xiết.
Thái tử thuật lại cho vợ nghe những chuyện xẩy ra. Rồi đó nàng đỡ chàng đứng dậy, đưa chàng cùng về ra mắt vua cha.
Về phần vua A-Dục từ khi được tin con ngựa Măng-đa-la về một mình và nàng Ma-Ða-Vi đi trốn, Ngài rất lo ngại. Tức khắc sai sứ đến thành Ðắc-xô-thi-la để hỏi tin Thái tử và tìm nàng Ma-Ða-Vi. Nhân dân trong thành, thếu vua lo ngại cho Thái tử liền hiểu họ bị cái dụ đầu tiên lừa. Sợ bị nghiêm trị họ liền tìm cách nói dối sứ giả rằng Thái tử đã một mình về triều. Dân chung quanh không dám hé răng, vì chúng biết rằng nói ra sẽ bị trừng phạt. Sứ giả nghi dân đã giết Thái tử nhưng không có chứng cớ gì, đành trở về.
Trong khi ấy hai vợ chồng Thái tử cùng dắt nhau về kinh. Bấy giờ Thái tử đã trút bỏ bộ áo quần ông hoàng mà khoác đồ rách rưới vì trong tình cảnh ấy đồ trang sức chỉ làm thêm đau lòng. Ði qua làng hai vợ chồng cất tiếng hát trong trẻo dịu dàng, dân làng động lòng đưa cho đồ để ăn uống.
Một ngày kia hai người đi đến cung điện vua. Lính canh cửa thấy người lam lủ nên không cho vào. Nhưng thấy cảnh thương hại áo rách bùn lầy bụi bặm nên cho vào trú trong chỗ chứa xe. Mỏi mệt hai người ngủ thiếp. Ngày mai vua A-Dục còn buồn rầu nghĩ đến thì Ngài giật mình vì nghe tiếng hát quen tai, đó là tiếng Thái tử hát trong nhà chứa xe. Vua nhận ra là tiếng con, nhưng còn sợ lầm, Ngài sai ra hỏi xem ai hát. Cận thần tâu rằng: đó là tiếng của người ăn mày, mù, đi với một người vợ. Vua liền sai dẫn cặp vợ chồng kia đến sân rồng. Thoạt đầu thấy người ăn mặt rách rưới vua còn nghi ngờ chưa dám nhận là con, nhưng bộ mặt hiền từ phúc hậu kia thật là của Thái tử còn lầm sao được. Hơn nữa dầu nàng Ma-Ða-Vi: áo quần thô kệch cũng còn dễ nhận. Vua đưa mắt nhìn dâu, nhìn con rồi ôm choàng cả hai mà nức nở.
Một hồi lâu vua mới định thần lại, hỏi Thái tử vì sao mắc nạn. Khi hiểu nguyên do, Vua nổi giận, nói rằng: ỗ Ðứa nào dám dùng ấn của Trẫm để làm việc tày trời kia?ỗ . Thái tử ngồi im vì chàng không muốn nói, sợ Hoàng hậu bị nghiêm phạt. Hỏi mãi nàng Ma-Ða-Vi mới nhắc lại cho Vua hay rằng Hoàng Hậu Xích-Di có được phép dùng riêng ấn vua một ngày. Ðã nhiều lần vua nghĩ Hoàng hậu có bụng ác với Thái tử. Vì Ngài nghĩ rằng, Hoàng hậu muốn cho con được nối ngôi tức là muốn trừ Hoàng tử Câu-Na-La; tuy nghĩ vậy Ngài vẫn không dám tin. Nhưng bấy giờ sự đã rõ ràng, Ngài liền truyền lệnh vời Hoàng hậu đến.
Về phần Hoàng hậu, từ khi thi hành thủ đoạn, mất ăn mắt ngủ; hễ chớp mắt là thấy hiện ra cảnh Thái tử bị hành hình. Thế rồi vừa tỉnh dậy vừa lo, nàng lo rằng tội nàng sẽ có ngày tiết lộ. Nàng tưởng tượng rằng từ vua chí dân, ai cũng nhìn thấu rõ tâm can mình, và nàng càng thêm khắc khoải lo sợ.
Khi có lệnh đòi, nàng đoán biết là việc bại lộ. Lúc thấy tất cả cái tội ác của mình, nàng hối hận nhưng không nói ra tiếng nữa, chỉ cúi gầm mặt xuống, đợi giờ tuyên án. Thái độ rõ ràng hơn lời thú tội.
Vua A-Dục nổi giận mắng lớn và truyền rằng trước khi đưa Hoàng hậu ra chém còn bắt chịu nhiều cực hình đau đớn đã. Thái tử xin vua mở lượng từ bi giảm tội cho nàng. Nhưng vua vẫn không nghe, Thái tử quỳ xuống nói rằng: ỗ Tâu lạy phụ vương, nào phải một mình Hoàng hậu phạm tội! Ðó chỉ vì kiếp trước con có làm nhiều tội ác, nên nay bị nghiệp báo thôi. Ðã từ lâu con cố nhớ xem lại kiếp trước con đã tạo nên tội ác gì nhưng mãi đến tối hôm qua, con mới nhớ rõ..ỗ
Vua ngắt lời: "Như con thì có tội gì, con là người tốt nhất trên đời!" Thái tử cảm động đáp: "Một người hiền lương cũng chưa hẳn vô tội. Vì nếu kiếp này ăn ở hiền lành, nhưng kiếp trước bạc ác thì cứ chịu quả báo. Tâu phụ vương, thuở xưa, có một người săn, một hôm thấy năm chục con dê rừng trong núi, liền dùng lưới bắt hết. Anh ta nghì rằng nếu giết hết thì tiêu thụ làm sao cho hết, chi bằng ta móc mắt chúng không trốn được, ta sẽ lần lượt đưa từng con tới tỉnh mà bán. Nghĩ thế anh ta không ngần ngại đưa tay móc mắt chúng đi rồi thả vào hang núi để bán dần dần. Người đi săn ấy là tiền kiếp của con. Người đi săn ấy làm khổ năm mươi chúng sanh, ngày nay chính là ngày người ấy trả nợ vậy.
Vua nghe lấy làm cảm động, nhưng còn phân vân chưa tin thì Thái tử ngồi ngay ngắn lại, chắp tay trước ngực mà nói rằng: "Nếu lời tôi nói đúng sự thực thì xin Phật chứng minh cho và mắt tôi sáng lại".
Lời nói vừa dứt; mắt Thái tử bỗng sáng như thường vua A-Dục và nàng Ma-Ða-Vi xiết bao vui mừng.
Vua dẹp giận, ra lệnh ân xá cho nàng Xích-Di, chỉ buộc nàng phải tìm chỗ yên tịnh để sám-hối tội lỗi. Vua từ đó ngôi báu vững vàng, còn Thái tử được chính thức phong Ðông cung để nối ngôi sau này và nàng Ma-Ða-Vi sẽ là Hoàng hậu.
(Phật Pháp Ngành Thiếu; Thích Minh Châu, Thích Ðức Tâm, Thích Thiện Ân, Thích Chân Trí)
|
| Lên trên |
|
| |
thienngo Ngành Thanh


Thành viên từ: 29/08/2006 Quốc tịch: Vietnam Bài viết: 212
|
Bài: 10/01/2007 lúc 07:26 | IP Logged
|
|
|
Bài 11- NGHI THỨC THÔNG THƯỜNG
A. DANH HIỆU
I. NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
1. Nam mô có sáu nghĩa:
- Quy y: quy là về, y là nương tựa, nghĩa là quay về nương tựa theo đức Phật.
- Quy mạng: quy gửi thân mạng của mình.
- Cung kính: là tôn trọng kính ngưỡng đức Phật.
- Cứu ngã: xin đức Phật cứu độ cho tôi.
- Lễ bái: xin kính lễ bái đức Phật.
- Ðộ ngã: xin đức Phật đưa tôi từ chỗ đau khổ đến chỗ an vui, từ chỗ sai lầm đến chỗ giác ngộ.
2. Bổn sư là vị thầy cội gốc đem đạo Phật đến cho chúng sanh và chỉ dạy chúng sanh con đường giải thoát giác ngộ. Ðây chỉ đức Phật Thích Ca Mâu Ni, vì nhờ Ngài mà chúng ta được hiểu biết đạo Phật.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật là xin đem cả thân mạng y chỉ, quy ngưỡng đức Thích Ca, nguyện cung kính lễ bái ngài, nguyện Ngài cứu độ cho mình thoát khỏi các sự đau khổ mê lầm.
II. NAM Mô A DI ÐÀ PHẬT
Là xin đem cả thân mạng quy ngưỡng lễ bái đức Phật A Di Ðà, và nguyện nhờ Ngài cứu độ.
III. NAM Mô ÐƯƠNG LAI Hạ SANH DI LẶC TôN PHẬT
Ðương Lai: là sẽ đến. Hạ sanh: là giáng xuống cõi Ta bà này. Di Lặc Tôn Phật: tức đức Phật Di Lặc sẽ giáng sanh xuống cõi Ta bà này sau đức Phật Thích Ca. Di Lặc có hai nghĩa: Từ thị: tức là một vị có lòng thương rộng lớn. Vô năng thắng: tức là có trí huệ từ bi thù thắng không ai sánh kịp. Ðức Di Lặc là gương sáng của hạnh hỷ xả.
IV. NAM Mô VĂN THÙ SƯ LợI Bồ TÁT
Văn Thù Sư Lợi là vị Bồ Tát có trí huệ đệ nhất thường cưỡi con sư tử tượng trưng cho sức mạnh trí huệ soi sáng và uốn dẹp các tối tăm mê lầm. Văn Thù là gương sáng của hạnh trí huệ.
V. NAM Mô ÐạI HạNH PHỔ HIỀN Bồ TÁT
Ðại Hạnh: là những hành động vĩ đại, cao siêu, khác thường, ít người làm nổi. Phổ Hiền: là vị Bồ-tát có những hạnh nguyện vĩ đại cứu độ cho mọi loài, thường hầu bên tay phải đức Phật Thích Ca và hay cưỡi con voi trắng 6 ngà tượng trưng cho sức mạnh các hạnh nghiệp vị tha rộng lớn.
Vi. NAM Mô ÐạI BI QUÁN THẾ ÂM Bồ TÁT
Ðại bi: là có lòng từ bi rộng lớn cứu độ cho tất cả chúng sanh. Quán Thế Âm: là vị Bồ tát quán xét tiếng kêu đau khổ của chúng sanh mà đến hóa độ. Ngài là gương sáng của hạnh từ bi.
VII. NAM Mô LINH SƠN HộI THƯợNG PHẬT Bồ TÁT
Linh Sơn: là hòn núi Kỳ Xà Quật ở Ấn Ðộ một chỗ đức Phật thường hay thuyết pháp. Hội thượng: là chúng hội nghe Pháp, gồm các vị Bồ tát Ðại đệ tử nên xưng là Hội Thượng, đây chỉ cho các Ðức Phật, các vị Bồ Tát, các vị Ðại đệ tử hội họp trên núi Linh Sơn nghe đức Phật Thích Ca thuyết pháp.
B. BÀI MƯỜI PHƯƠNG PHẬT BA ÐỜI
Bài này tán thán đức Phật A Di Ðà, phát nguyện vãng sanh qua nước Cực Lạc và nguyện tu học để cứu độ chúng sanh.
1. Mười phương Phật ba đời: là tất cả đức Phật trong 10 phương ở hiện tại, quá khứ và vị lai.
2. A Di Ðà bậc nhất: là đức Phật A Di Ðà hơn hết không có đức Phật nào bằng, ý nói tu theo đức Phật A Di Ðà thì mau chứng quả hơn hết.
3. Chín phẩm độ chúng sanh: chín phẩm là chín từng bậc; căn tánh chúng sanh cao thấp khác nhau, nên vãng sanh qua nước Cực Lạc đạt đến những phẩm bậc sai khác nhau. Chín phẩm là hạ hạ, hạ trung, hạ thượng; Trung hạ, trung trung, trung thượng; Thượng hạ, thượng trung, thượng thượng. Ý nói đức Phật A Di Ðà tùy theo căn tánh chúng sanh mà độ tất cả mọi loài vãng sanh qua nước Cực Lạc, đạt đến những phẩm bậc sai khác nhau.
4. Oai đức không cùng cực: Oai là cử chỉ oai nghi nghiêm trang khiến mọi người kính nể. Ðức là đức hạnh. Oai đức của A Di Ðà vô cùng tận không thể so sánh ước lượng được.
5. Ðệ tử nguyện quy y: Ðệ tử phát nguyện xin quy y đức Phật A Di Ðà.
6. Sám hối ba nghiệp tội: Xin sám hối tất cả những tộI lỗi về thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp.
7. Phàm được bao phước thiện: là phàm có làm bao nhiêu việc phước đức thiện sự.
8. Chí tâm nguyện hồi hướng: Thành tâm khẩn thiết nguyện xin hồi hướng công đức đã làm trên.
9. Nguyện cùng người niệm Phật: Nguyện cùng đồng với người niệm Phật.
10. Cảm ứng hiện theo cảm:Cảm: là những việc làm của mình, có sức mạnh ảnh hưởng đến xung quanh. Ứng: là theo sức mạnh cảm thông ấy, xung quanh ứng đối lại. Như nói là cảm, tiếng vang dội lại là ứng. Ðây nói do lòng thành niệm Phật của mình (cảm) mà cảnh tịnh độ hiện ra trước mắt (ứng). Sự cảm ứng hiện ra tùy theo mình phát tâm niệm Phật.
11. Lâm chung cảnh Tây phương: Khi gần chết cảnh Cực Lạc ở phương Tây.
12. Rõ ràng bày trước mặt: Hiện ra rõ ràng bày trước mặt mình.
13. Thấy nghe đều tinh tấn: Khiến cho mọi người thấy và nghe, đều phát tâm tinh tấn niệm Phật.
14. Ðồng sanh nước Cực Lạc: Cực Lạc là cảnh giới hết sức sung sướng đẹp đẽ của đức Phật A Di Ðà phương Tây. Người niệm Phật và mình đều cùng nhau được vãng sanh qua nước Cực Lạc.
15. Thấy Phật thoát sinh tử: Thấy được đức Phật, liền thoát sự luân hồi sống chết; vì một khi được sanh qua nước Cực Lạc, thì không còn phải sống chết nữa.
16. Như Phật độ hết thảy: Theo như thệ nguyện của chư Phật mà cứu độ cho tất cả chúng sanh.
17. Ðoạn vô biên phiền não: là đoạn trừ tất cả tánh phiền não tham sân si không ngần, không bờ bến.
18. Tu vô lượng pháp môn: là tu tập những pháp vô lượng.
19. Thệ nguyện độ chúng sanh: Xin thệ và phát nguyện cứu độ hết thảy chúng sanh.
20. Ðều trọn thành Phật đạo: Hết thảy chúng sanh đều chứng quả thành Phật.
C. BốN LỜI NGUYệN RộNG LỚN
1. Chúng sanh không số lượng, thệ nguyện đều độ khắp: Thệ nguyện xin cứu độ tất cả chúng sanh số lượng nhiều không thể kể được. Chúng sanh chỉ cho tất cả loài sinh mạng.
2. Phiền não không cùng tận, thệ nguyện đều dứt sạch: Thệ nguyện dứt sạch tất cả muôn phiền não nhiều không cùng tận.
3. Pháp môn không kể xiết, thệ nguyện đều tu học: Xin nguyện tu và học tất cả những pháp môn Phật dạy không thể kể xiết. Pháp môn là chỉ những lời Phật dạy không thể kể xiết. Pháp môn là chỉ những lời Phật dạy có công năng mở đưa mọi người vào cảnh giới giải thoát.
4. Phật đạo không gì hơn, thệ nguyện đều viên thành: Xin nguyện thành tựu một cách viên mãn quả vị Phật đạo cứu cánh.
D. CHÚ VÃNG SANH
Chú là lời bí mật bằng tiếng Phạn do chính đức Phật nói ra, người thường không thể hiểu và cắt nghĩa. Bài này có công năng tiếp dẫn chúng sanh qua nước Cực Lạc nên gọi là chú vãng sanh.
Bạt nhứt thế nghiệp chướng căn bản: Bạt là trừ, nhổ tận gốc rễ hết thảy những về thân, khẩu, ý làm chướng ngại cho giải thoát, những nghiệp này làm cội gốc phát sanh ra các nghiệp khác, nên gọi là căn bản.
Ðắc sanh Tịnh Ðộ Ðà-la-ni:Ðà-la-ni dịch tổng trì, nghĩa là một pháp môn thâu nhiếp các pháp môn khác. Bài chú vãng sanh này là một pháp môn thâu nhiếp hết thảy pháp môn khác, có công năng dứt sạch các nghiệp chướng căn bản khiến được vãng sanh qua nước Cực Lạc.
E. BA TỰ QUY
Ba tự quy là tự quy y Phật, tự quy y Pháp, tự quy y Tăng. Gọi là tự nghĩa quy y Phật, Pháp, Tăng chung cùng khắp cả pháp giới.
1. Tự quy y Phật, xin nguyện chúng sanh, thể theo đạo cả, phát lòng vô thượng: xin quy y Ðức Phật cùng khắp pháp giới và xin nguyện cùng với tất cả chúng sanh, thể theo đạo cao siêu nhiệm mầu mà phát tâm Bồ Ðề vô thượng.
2. Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sanh, thấu rõ kinh tạng, trí tuệ như biển: xin quy y với Pháp cùng khắp Pháp giới và nguyện cùng tất cả chúng sanh thấu rõ ba tạng kinh điển được trí huệ rộng lớn, như biển cả.
3. Tự quy y Tăng, xin nguyện chúng sanh, quản lý đại chúng, hết thảy không ngại: xin quy y với Tăng cùng khắp pháp giới và nguyện cùng tất cả chúng sanh, điều khiển coi sóc toàn thể đại chúng hết thảy không gì ngần ngại.
F. HồI HƯỚNG CHÚNG SANH
Bài này trong kinh Pháp Hoa, là lời nguyện đem công đức tu hành tụng niệm trên của mình mà hướng về ban bố cho toàn thể chúng sanh tất cả đều được thành Phật như mình.
1. Nguyện đem công đức này: Công đức là những việc có công năng tăng trưởng phước đức cho mình, cho mọi người. Ðây là nguyện xin đem tất cả công đức tu hành tụng niệm phước sự của mình.
2. Chung cùng khắp tất cả: san sẻ chia khắp cho tất cả chúng sanh.
3. Ðệ tử và chúng sanh: tất cả chúng sanh và chính mình.
4. Ðều trọn thành Phật đạo: tất cả đều viên mãn thành tựu được chứng quả Phật.
(Phật Pháp Ngành Thiếu; Thích Minh Châu, Thích Ðức Tâm, Thích Thiện Ân, Thích Chân Trí)
|
| Lên trên |
|
| |
thienngo Ngành Thanh


Thành viên từ: 29/08/2006 Quốc tịch: Vietnam Bài viết: 212
|
Bài: 10/01/2007 lúc 07:28 | IP Logged
|
|
|
Bài 12-13
Những mẩu chuyện Ðạo Bậc Sơ Thiện
LÒNG NGƯỠNG MỘ PHẬT PHÁP CỦA VUA A DỤC
(chuyện Ðạo Bậc Sơ Thiện)
Vua A Dục trước là con người độc ác, từ khi theo đạo Phật, đổi thành người rất nhân từ. Hồi mới theo đạo Phật vì lòng cảm mộ quá dồi dào nên mỗi khi ngự ngoài đường, hễ gặp các vị Tỳ Kheo nào đi ngang qua, liền xuống kiệu khấu đầu lạy. Có vị Ðại thần tên là Da-Tát, lấy làm quá đáng bèn cản ngăn vua rằng: "Các thầy Tỳ kheo kia chẳng qua là những người các cấp đi hành khất ngoài đường, không đáng tôn trọng".
Vua im lặng không trả lời. Cách vài ngày, vua truyền cho các quan văn võ, mỗi ông phải đem bán một đầu súc vật, và cho biết giá bán các đầu ấy như thế nào. Ông Da-Tát thời phải bán một đầu người. Các đầu súc vật thời bán được với một giá tiền sai khác hơn kém nhau, duy có đầu người của ông Da-Tát bán thì không ai mua. Vua hỏi cớ sao, ông Da-Tát trả lời: "Vì đầu người là một vật hèn hạ, không có giá trị gì". Vua lại hỏi: "Chỉ có một cái đầu này là hèn hạ hay tất cả đầu người đều hèn hạ?" Ông đáp tất cả đầu người đều hèn hạ. Vua bèn hỏi: "Vậy đầu trẫm đây cũng hèn hạ sao?" Ông Da-Tát sợ hãi không dám nói, sau vua bắt ép ông phải thú nhận đầu vua cũng hèn hạ. Vua bèn giảng cho ông Da-Tát nghe rằng: "Phải ngươi muốn cản ta đừng lạy các vị Sa Môn là nhà ngươi có ý kiêu căng tự đắc. Nhưng cái đầu của Trẫm đây là một vật hèn hạ không ai thèm mua, vì cúi đầu xuống mà được thêm công đức, thêm giá trị thì phỏng có hại gì? Nhà ngươi muốn chỉ trích các thầy Sa môn là người các cấp, nghĩa là không sang trọng nhưng nhà ngươi không rõ ân đức của các thầy. Khi nào có đi ăn tiệc, ăn đám cưới thời mới nên hỏi đến giai cấp, chớ đã đi tu học đạo, phân biệt giai cấp làm gì? Người sang trọng danh giá bị tội nặng thời ai cũng nói người này là kẻ có tội, và ai cũng đem lòng khinh bỉ. Nếu con người hèn hạ mà tu nhân tích đức thời ai cũng kính trọng, ai cũng cúi đầu". Vua nói đến đây, bèn chỉ hẳn vào ông Da-Tát nói lớn rằng: "Nhà ngươi há lại không nhớ câu này của Ðức Phật Thích Ca sao? Ngài dạy: Người có trí thời dầu vật không có giá trị cũng làm nên có giá trị". Ta muốn theo Phật, ngươi lại can gián ta, ấy là bất trung. Ðến khi ta nằm xuống đất như cây mía kia, thì dẫu muốn lạy, muốn cung kính cũng không sao được nữa, thời làm thế nào có công đức? Vậy ngươi nên để yên ta lạy các vị Sa môn kiếm chút phúc đức. Nếu người nào dám tự nói: 'Ta là người đáng tôn trọng hơn tất cả', thời ấy là người u mê nhất đời. Nếu lấy huệ nhãn của Ðức Phật mà xem xét thân thể, thời biết thân ông Vua và thân mọi người cũng giống nhau chỉ cái phù hoa bề ngoài. Nhưng cốt yếu ở đời là lòng đạo đức thời trong thân thể người hèn hạ nhất đời cũng có thể được. Chính cái ấy là người trí giả gặp đâu cũng phải cung kính, phải vái lạy vậy".
Trích trong chuyện Vua A Dục
(Phật Pháp Ngành Thiếu; Thích Minh Châu, Thích Ðức Tâm, Thích Thiện Ân, Thích Chân Trí)
ÐỨC PHẬT VỚI LA HẦU LA
(chuyện Ðạo Bậc Sơ Thiện)
Khi La-Hầu-La (con của Ðức Phật Thích Ca) chưa thành đạo, tâm tánh thô tháo, lời nói ít thành tín. Phật bảo La-Hầu-La rằng: "Ngươi hãy về ở tịnh xá Hiền Ðộ, giữ miệng nhiếp ý, siêng tu kinh giới". La Hầu La vâng theo lời Phật dạy về ở tịnh xá Hiền Ðộ 90 ngày, tàm quý tự hối ngày đêm không dừng nghỉ. Một hôm Ðức Phật an tọa, La-Hầu-La nhiếp tâm đứng hầu một bên. Phật bảo La-Hầu-La rằng: "Ngươi hãy bưng chậu nước đến đây, rửa chân cho ta". La-Hầu-La vâng lời rửa chân Ðức Phật. Khi rửa xong, Ðức Phật bảo La-Hầu-La rằng:
-Ngươi có thấy nước rửa chân trong chậu kia không?
-Bạch Thế Tôn, con thấy.
-Nước ấy có thể dùng để ăn uống súc miệng được không?
-Bạch Thế Tôn, không thể dùng được. Nước ấy trước kia trong sạch, nay vì rửa chân trở thành nhớp đục nên không thể dùng.
Phật dạy rằng: "Ngươi cũng như vậy, là con ta, là cháu của vua Tịnh Phạn, bỏ sự vui sướng ở đời, làm vị Sa-Môn; nếu ngươi không tinh tấn, nhiếp thân giữ miệng, thời phải bị ba món là tham, sân, si làm nhơ nhớp tâm ý, cũng như nước đục kia không thể dùng được."
Phật lại bảo La-Hầu-La: "Hãy đổ chậu nước kia đi". La-Hầu-La liền đổ nước trong chậu ra. Phật nói:
- Chậu kia nay không còn nước nhớp nữa, vậy có thể dùng để đựng đồ ăn uống được không?
- Bạch Thế Tôn, không thể dùng được, là vì đã mang cái tên chậu đựng nước rửa và đã từng chứa nước bất tịnh.
Phật dạy La-Hầu-La: "Ngươi cũng như vậy; tuy làm vị Sa-Môn, miệng không nói lời thành tín, tâm tánh lại cương cường, chẳng niệm tinh tấn, thường bị tiếng đồn không tốt. Thật cũng như cái chậu rửa kia, không thể đựng đồ ăn được."
Ðức Phật lấy ngón chân hất cái chậu rửa, khiến chạy lăn tròn, nghiêng qua nghiêng lại vài lần mới dừng lại. Phật bảo La-Hầu-La:
-Ngươi có tiếc cái chậu bị bể không?
- Bạch Thế Tôn, cái chậu để rửa chân là vật không quý giá gì. Trong ý tuy có tiếc đôi chút, nhưng không đến nỗi thiết tha lắm.
Phật bảo La-Hầu-La: "Ngươi cũng như vậy, tuy làm người Sa-môn, không nhiếp thân và miệng, nói lời thô ác làm hại nhiều người, thời trong chúng không ai thương, người trí thức không ai tiếc, thân chết hồn luân chuyển trong ba đường dữ, sống chết vô lượng, các Hiền Thánh không ai thương tiếc; cũng như ngươi nói không tiếc cái chậu nữa." La-Hầu-La nghe lời Phật dạy, lấy làm hổ thẹn và sám hối tất cả lỗi lầm đã phạm.
Kinh Pháp-Cú Thí Dụ
(Phật Pháp Ngành Thiếu; Thích Minh Châu, Thích Ðức Tâm, Thích Thiện Ân, Thích Chân Trí)
ÐỨC PHẬT ÐỘ CHO NGƯỜI GÁNH PHÂN (chuyện Ðạo Bậc Sơ Thiện)
Thành Xá Vệ có môt người Chiên-Ðà-La, sống về nghề đổ phân. Một hôm, Ðức Phật gặp đi giữa đường bèn kêu lại. Người đổ phân thưa rằng: "Con là người gánh phân ô uế không sạch, con không dám lại gần Ngài". Ðức Phật nói rằng: "Ta nay muốn cứu độ cho người". Rồi Ðức Phật tự thân dắt người gánh phân xuống sông Hằng tắm rửa sạch sẽ, và đưa về Tịnh-Xá Kỳ-Hoàn cho xuất gia làm vị Sa-môn. Người gánh phân tu hành rất tinh tấn cần khổ chuyên tâm, nên chưa đầy một tuần chứng quả A-La-Hán, thần thông tự tại. Lúc bấy giờ vua trong nước nghe tin Ðức Phật độ cho người Chiên-Ðà-La, lấy làm bất mãn cho rằng làm vậy ô nhuế hàng Sa-môn, và làm khó khăn sự kính lễ của các hàng vua chúa, liền đến tịnh xá trách Ðức Phật.
Khi đến chỗ Phật ở, thấy một vị Sa-môn uy nghi đức hạnh, ngồi thuyền trên một tấm đá, hiện nhiều thần thông kỳ diệu. Vua vào lễ Phật và bạch rằng: "Bạch Thế Tôn, vị Sa-môn kia, danh hiệu là gì, sao lại có nhiều thần thông như vậy?" Phật bảo rằng: "Ðó là người gánh phân, nhờ công hạnh tinh tấn nên chứng được quả A-La-Hán." Rồi Ðức Phật dùng thí dụ cho vua rõ rằng: "Như ở trong bùn nhơ bẩn, có nở một hoa sen thơm ngát, vậy Bệ-hạ là người có mắt, Bệ-hạ có hái lấy hoa kia không?" Vua đáp: "Ðóa hoa tuy mọc trong bùn lầy mà thơm ngát hương quý, rất nên dùng để tự trang nghiêm. Còn bùn lầy nhơ bẩn kia thì nên quán xem như là trạng thái của bà mẹ, chính tự trong bào thai mà sanh nở đóa hoa công đức".
Lúc bấy giờ vua lại bạch Phật rằng: "Vị A-La-Ha trước làm nghề đổ phân, nay công quả tu hành viên mãn, chứng được những quả đức không thể nghĩ nghì. Tôi xin nguyện luôn luôn cúng dường mười món cần thiết, không dám để thiếu thốn".
(Phật Pháp Ngành Thiếu; Thích Minh Châu, Thích Ðức Tâm, Thích Thiện Ân, Thích Chân Trí)
|
| Lên trên |
|
| |
nhuan_tam Đoàn sinh mới


Thành viên từ: 24/10/2006 Quốc tịch: Vietnam Bài viết: 19
|
Bài: 12/05/2007 lúc 09:34 | IP Logged
|
|
|
hay quá lên đây học bài khỏi chép bài vở. he
__________________ Nhuan Tam
|
| Lên trên |
|
| |
QuangThang Đoàn sinh mới

Thành viên từ: 08/06/2007 Quốc tịch: Vietnam Bài viết: 3
|
Bài: 08/06/2007 lúc 18:08 | IP Logged
|
|
|
Hay qua anh oi!!!!!!!!!!!
Mong anh chi tiep tuc viet nua cho anh em hoc tap,
Mot em doan sinh men dao
__________________ Qua
|
| Lên trên |
|
| |
maithi Đoàn sinh mới

Thành viên từ: 05/04/2007 Quốc tịch: Vietnam Bài viết: 5
|
Bài: 12/06/2007 lúc 22:20 | IP Logged
|
|
|
Em đang học Sơ Thiện sắp thi rồi mà cho tới giờ em chưa có đầy đủ tài liệu bài học. Mong các anh chị chỉ giúp cho em nơi để tìm tài liệu. Em xin cảm ơn
__________________ Thi Dung
|
| Lên trên |
|
| |
linhbatuoc Đoàn sinh mới


Thành viên từ: 14/06/2007 Quốc tịch: Vietnam Bài viết: 17
|
Bài: 21/07/2007 lúc 14:15 | IP Logged
|
|
|
Hay quá !!!    
cái ày đáng để cho chúng ta học hỏi đây
Em tìm cái này lâu lắm rồi mà ko có
__________________ linh
|
| Lên trên |
|
| |
hoangdien Đoàn sinh mới

Thành viên từ: 02/06/2007 Quốc tịch: Vietnam Bài viết: 17
|
Bài: 03/08/2007 lúc 20:26 | IP Logged
|
|
|
nhung bai nay anh chep rat la hay , co the hoc hoi them o anh rat nhieu
Nhuan Tam oi ban ten gi vay , co gi hay goi tin nhan wa nick " banglangtim26040407"
chao anh
|
| Lên trên |
|
| |
thienngo Ngành Thanh


Thành viên từ: 29/08/2006 Quốc tịch: Vietnam Bài viết: 212
|
Bài: 31/08/2007 lúc 08:51 | IP Logged
|
|
|
Bài 14
Bốn Ân
I. LỜI NÓI ÐẦU
Làm người ở đời, được sống, được thành đạt chút gì toàn nhờ công ơn của mọi người, của xã hội, của chúng sanh. Nhất là người Phật-tử lại có công ơn của Phật-Pháp-Tăng đã đem lại huệ mạng cho mình. Nên những ai muốn thành tựu nhân cách, muốn nhận rõ ý niệm của đời sống tương quan, không thể không biết đến bốn ân và những phương cách đền đáp.
II. HÀNH TƯỚNG BỐN ÂN
Bốn ân là ân cha mẹ, ân thầy bạn, ân quốc gia xã-hội, ân Tam-Bảo.
a. ÂN CHA MẸ
1. Ân sinh sản: Chín tháng cưu mang, bà mẹ bỏ ăn mất ngủ, thân thể không an. Ðến khi sanh sản đau đớn vô cùng khác gì đứt từng khúc ruột. Còn cha phải chạy ngược chạy xuôi, lo sắm vật dụng để chu-toàn cho mẹ con, và hồi hộp trông mong cho mẹ con được vuông tròn.
2. Ân nuôi nấng: Khi mới sanh, phải nhờ cha mẹ đồ sữa mem cơm, bồng ẳm dắt-dìu, cha mẹ phải luôn luôn săn sóc, không thể rời xa được một ngày.
3. Ân thuốc thang : Mỗi khi khôn lớn, cha mẹ phải chăm lo dạy bảo, trau dồi đức hạnh để con đủ tư cách làm người, và để tự nuôi nấng ở đời.
B. ÂN THẦY BẠN
1. Mở rộng kiến thức : Vì muốn nâng cao trình độ hiểu biết cho ta, nên thầy phải gia công dạy bảo, không kể hao tổn tinh-thần.
2. Khuyến-khích : Thầy bạn luôn ở bên mình để khuyến khích dắt dẫn, trong những lúc bị thất vọng chán-nản, trong những trường hợp khó khăn, trong những lúc bị tai nạn bất ngờ.
3. Khai sáng trí thức : Bây giờ biết đọc biết viết, biết nhận xét sự lý, toàn nhờ công ơn của thầy bạn đã luôn luôn dạy bảo dắt dìu.
C. ÂN QUỐC-GIA XÃ-HỘI
- Trị An : Nhờ những vị chưởng quản việc nước, lo sửa sang nước nhà, mở-mang các công-nghệ, dẹp trừ những kẻ tham lam bóc lột, đem lại thái-bình thạnh-trị cho dân chúng.
- Giữ gìn biên-giới : Nhờ ơn chính-phủ lo bảo toàn biên-giới không cho giặc cướp xâm lăng, nên dân chúng mới được an toàn.
- Cơm áo : Ta có cơm ăn áo mặc, toàn nhờ công ơn của người nông-phu, kẻ dệt vải...
- Thuốc thang : Các lương-y hảo dược giúp chúng ta thoát khỏi đau ốm được sống lành mạnh vui vẻ.
- Súc sanh : Trâu kéo cày, ngựa kéo xe đều là công ơn thay thế sự mệt nhọc chúng ta.
D. ÂN TAM-BẢO
- Ân Phật-bảo
a) Xã quốc, thành thê tử : Vì muốn cứu độ chúng-sanh, nên đức Phật bỏ tất cả quốc thành, bửu vị, thê tử, quyến thuộc để xuất-gia tìm đạo.
b) Sáu năm khổ hạnh : Vì muốn chứng chơn-lý để giải thoát chúng-sanh, nên Ngài đã quên đói rét, tu khổ-hạnh sáu năm trời. Rồi Ngài lại ngồi tham thuyền 49 ngày dưới gốc cây Tát-ba-la để thành đạo cứu độ chúng-sanh.
c) Thuyết-pháp giáo-hóa : Trong 49 năm, Ngài không quản những nỗi gian lao khổ nhọc đi khắp đó đây, để thuyết pháp giáo-hóa chúng-sanh, tùy theo hoàn cảnh, tùy theo căn cơ mà dạy-dỗ, dẫn dắt chúng-sanh, để chánh pháp được lưu truyền muôn thuở.
- Ân Pháp-bảo :
a) Mở đường giải-thoát : Nhờ pháp-bảo, chúng ta mới biết đường lối tu hành, thoát ly sanh tử, chứng cảnh giới thanh tịnh an vui.
b) Giản trạch tà chánh : Nhờ pháp-bảo, chúng ta nhận rõ được sự lý trong vũ-trụ, phân biệt được các pháp tà chánh.
c) Diệt ác hưng thiện : Pháp-bảo có công năng dẹp trừ những ác pháp, bồi đắp, phát khởi các thiện pháp.
- Ân Tăng bảo :
a) Duy trì chánh pháp : Các vị xuất-gia tu hành, phiên dịch, diễn giảng ba Tạng giáo-điển, khiến Phật-pháp thường còn không mất.
b) Thay Phật thuyết pháp : Sau khi Ðức Phật nhập diệt, các vị Tăng-già chịu lời phúc chúc của đức Phật, đem đạo mầu giáo hóa khắp nơi.
c) Truyền trao giáo pháp : Các vị tại gia cư sĩ muốn phát tâm cầu đạo giải thoát, đều nhờ các vị Tăng già truyền trao giới pháp nêu gương tu hành.
III. PHƯƠNG TIỆN ÐỀN TRẢ BỐN ÂN
a. Cách Báo Ân Cha Mẹ:
1. Hiếu hạnh: Cung kính, vâng lời hết lòng phụng sự cha mẹ.
2. Tôn trọng danh dự: Không làm phiền lòng cha mẹ bằng cách làm mất danh dự của gia tộc, mất tư cách con người.
3. Hiển danh cha mẹ: Tự mình tài đức hơn người thì cha mẹ được thơm lây, lưu tiếng nghìn thu.
4. Khuyến hóa: Khuyến khích cha mẹ cải tà quy chánh, quy y Tam Bảo, thực hành Phập Pháp. Như gương của Ngài Mục-Kiền-Liên cứu mẹ ra khỏi ngạ quỷ, như Ðức Phật Thích-Ca sau khi thành Phật lên cõi trời Ðạo-lợi giáo hóa cho mẫu hậu và về thành Ca-Tỳ-La-Vệ giáo hóa cho phụ vương.
b. Cách Báo Ân Thầy Bạn:
1. Siêng năng học tập: Ðể khỏi phụ lòng dạy dỗ dắt dẫn của thầy bạn.
2. Cung kính lễ độ: Hết lòng cung kính thầy, thương mến chân thành với bạn.
3. Thực hành: Sống đúng theo lời thầy bạn dạy bảo khuyên nhủ.
4. Khuyến hóa: Khuyến hóa thầy bạn sống đúng theo lời Phật dạy.
c. Cách Báo Ân Quốc Gia Xã Hội:
1. Tròn bổn phận: Sống đúng theo quốc chế, biết đoàn kết, biết làm tròn hết bổn phận của mình.
2. Phát triển văn hóa: Làm cho nền văn hóa nước nhà được dồi dào, nâng cao trình độ của dạn chúng, phát huy đạo đức đưa dân chúng đến con đường chân thiện mỹ.
3. Kinh doanh thương nghiệp: Kinh doanh buôn bán để nâng cao đời sống xã hội.
4. Sống giản dị: Không quá tham cầu về vật chất, sống đời sống giản dị vừa phải trong sự ăn mặc.
5. Tương thân tương ái: Thương yêu cứu giúp tất cả người và vật.
d. Cách Báo Ân Phật Pháp Tăng:
1. Học và hành lời Phật dạy: Nghiên cứu học tập kinh điển Phật dạy, tập sống đúng theo như lời đức Phật dạy.
2. Hộ trì Phật pháp: Tổ chức các cơ quan Phật giáo thành tâm ủng hộ Phật pháp và làm các Phật sự.
3. Cung kính cúng dường: Trọn đời quy ngưỡng Phật Pháp Tăng, cung kính cúng dường các vị tu hành giới thanh tịnh.
IV. KẾT LUẬN:
Không luận người sang kẻ hèn, đã sống ở đời tức phải biết bốn ân và tìm tất cả phương tiện để trả. Riêng đối với người Phật tử, được nhận rõ công ơn của chúng sanh, của Phật Pháp Tăng nên cần phải luôn luôn cố gắng đền đáp bốn ân. Và muốn vậy, người Phật tử phải nhận rõ rằng, chỉ có sống đúng theo lời Phật dạy, và khuyến hóa mọi người, mọi loài đều sống theo lời Phật dạy, là cách đền ơn trả nghĩa quý hóa thiết thực nhất, và đúng với bản nguyện của chư Phật và các vị Bồ tát.
|
| Lên trên |
|
| |
thienngo Ngành Thanh


Thành viên từ: 29/08/2006 Quốc tịch: Vietnam Bài viết: 212
|
Bài: 31/08/2007 lúc 08:59 | IP Logged
|
|
|
Bài 15
Bốn Nhiếp Pháp
I. LỜI NÓI ÐẦU
Ðức Phật ra đời với một ý niệm lợi sanh. Cho nên trong tất cả phương tiện giáo hóa khuyến tu của Ngài, không một pháp môn nào ra ngoài mục đích ấy.
Phật tử cũng vậy, học Phật không những riêng giác ngộ cho mình, còn giác ngộ cùng khắp tất cả, nghĩa là phải lợi sanh.
Song muốn thực hiện tinh thần lợi sanh của Ðức Phật, Phật tử cần phải học hành bốn nhiếp pháp. Bốn nhiếp pháp là những phương tiện giản dị, căn cứ vào lòng từ bi để khuyến hóa chúng sanh bỏ tà theo chánh.
II. ÐỊNH NGHĨA
Bốn nhiếp pháp là bốn phương pháp nhiếp hóa chúng sanh, nghĩa là bốn phương tiện này ứng dụng trong mọi trường hợp và hoàn cảnh, có công năng nhiếp phục và giác ngộ chúng sanh.
III. HÀNH TƯỚNG BốN NHIẾP PHÁP
Bốn nhiếp pháp là: Bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự.
1. Bố thí nhiếp: Nhiếp hóa bằng cách bố thí. Bố thí có ba phương diện
a. Tài thí: Cũng gọi là Tư sanh thí. Nghĩa là đem của cải giúp đỡ đời sống thiết thực cho chúng sanh. Tài có 2:
1. Ngoại tài: Của cải ngoài tự thân như: Bố thí tiền bạc, áo cơm, nhà cửa, thuốc thang v.v...
2. Nội tài: Của cải ngay trên thân như bố thí thân mạng, bố thí sức lực, bố thí lời nói, bố thí tư tưởng ý kiến v.v...
b. Pháp thí: Ðem giáo pháp chân chính bố thí. Pháp có:
Cúng dường chánh pháp: thiệt hành, kính lễ, tụng đọc Phật Pháp, để hồI hướng công đức cho tất cả chúng sanh.
c. Vô úy thí: Bố thí đức vô úy nghĩa là dùng tất cả các phương tiện bố thí để chúng sanh an tâm trước mọI sự nguy hiểm và biến cố. Vô úy thí có 4:
1. Gặp khi đói kém: Ta đem của cải áo cơm bố thí.
2. Không làm ác gây hại chúng sanh: Không bao giờ làm các điều ác não hại chúng sanh, khiến chúng sanh nghe tên thấy hình được khỏi các điều sợ hãi.
Làm việc thiện mà lo sợ không thành, ta hãy bố thí bằng sức lực, ý kiến hay của cải để tán trợ cho thành tựu.
3. Gặp tai nạn khủng khiếp ta hãy tìm phương giải cứu.
4. Sợ khổ sanh tử luân hồi ta phải giáo hóa khuyến tu để cầu giải thoát.
2. Ái ngữ Nhiếp: Dùng lời nói từ hòa thân mật và thành thật để nhiếp hóa. Ái ngữ có ba:
a. Lời nói sáng suốt rõ ràng hợp chánh lý để cảm hóa hướng dẫn người.
b. Lời nói hòa nhã, hiền dịu để cảm hóa khuyến khích và an ủi.
c. Lời nói thành thật ngay thẳng không xảo quyệt, để cảm hóa tăng trưởng lòng tin kính Phật, Pháp, Tăng.
3. Lợi hành nhiếp: Nhiếp hóa bằng tất cả hành động có lợi ích. Lợi hành có hai:
a. Lợi hành trong công việc: Thực hành hạnh tài thí để tư trợ đời sống vật chất cho mọI ngườI, thực hành hạnh pháp thí để giáo hóa mọI ngườI và thực hành hạnh vô úy thí để dung hòa những tư tưởng khiếp nhược cho chúng sanh.
b. Lợi hành trong sự tấn tu: Giữ giới thanh tịnh, siên tu thiền quán, diệt trừ tham dục và đào thải si mê v.v...
Lợi hành trong công việc là đem lại lợi ích trực tiếp cho chúng sanh, nhưng lợi hành trong sự tấn tu mới tích cực lợi ích chúng sanh một cách sâu rộng, nhiếp hóa chúng sanh một cách tự tại.
4. Ðồng sự nhiếp: Cùng sống với chúng sanh trong một công việc và dung hòa trong mọi hoàn cảnh, tư tưởng địa vị để cảm hóa và nhiếp phục. Ðồng sự có 4:
a. Cùng sống trong một công việc như: học tập, chức vụ, thương mãi v.v...
b. Cùng sống trong một hoàn cảnh như: giàu, nghèo, sang, hèn v.v...
c. Cùng sống trong một địa vị như: chức tước, quyền vị v.v...
d. Cùng sống trong một tư tưởng khác như: Thượng tần tư tưởng, trung tầng tư tưởng và hạ đẳng tư tưởng để cảm hóa và nhiếp phục.
VI. LỢI ÍCH CỦA BỐN NHIẾP PHÁP
Ngoài công năng hấp dẫn và nhiếp hóa, bốn nhiếp pháp còn có công năng đem lại thật lợi hoàn toàn cho chúng sanh:
1. Bố thí: Chúng sanh sẽ được 3 món giải thoát.
a. Giải thoát cảnh khổ bần cùng.
b. Giải thoát tội chướng vô minh trong đời nay và nhiều đời.
c. Giải thoát mọi nỗi lo sợ.
2. Ái ngữ: Chúng sanh sẽ được 3 món tự tại.
a. Tất cả giáo điển vi diệu sẽ được tự tại thấu nhập.
b. Tất cả phiền não sầu khổ sẽ được tự tại an vui.
c. Tất cả công đức thù thắng sẽ được tự tại tăng trưởng.
3. Lợi hành: Chúng sanh sẽ được hai món tăng tiến
a. Tăng tiến phước thiện trong tất cả hành vi.
b. Tăng tiến đức độ trong tất cả ý niệm.
4. Ðồng sự: chúng sanh sẽ được hai món thành tựu:
a. Cải thiện tất cả hạnh nghiệp bất chính để hoàn toàn thành tựu hạnh nghiệp chơn chánh.
b. Cải thiện tất cả ý niệm và tập quán bất chính để hoàn toàn thành tựu ý niệm tập quán thiện mỹ.
V. KẾT LUẬN
Bốn nhiếp pháp là một pháp môn rất cụ thể hoàn bị để "lợi sanh". Căn cứ vào lòng từ bi vô lượng của đức Phật, thì lợi sanh là hạnh chính trong tất cả hạnh của đức Phật là mục đích tối cao và duy nhất của đức Phật ra đời. Vì thế Bốn nhiếp pháp có một giá trị đẹp đẽ và tiêu biểu ý chí cao rộng của đức Phật, cũng như có một giá trị siêu việt trong tất cả các phương pháp lợi sanh của Phật Ðà
(Phật Pháp Ngành Thiếu; Thích Minh Châu, Thích Ðức Tâm, Thích Thiện Ân, Thích Chân Trí)
|
| Lên trên |
|
| |
thienngo Ngành Thanh


Thành viên từ: 29/08/2006 Quốc tịch: Vietnam Bài viết: 212
|
Bài: 31/08/2007 lúc 09:00 | IP Logged
|
|
|
Bài 16
Lịch sử Phật Thích Ca (Từ Xuất Gia đến Nhập Diệt)
I. THÁI TỬ XUẤT GIA
Nửa đêm mồng 8 tháng hai, Thái tử cùng Xa Nặc thắng ngựa Kiền Trắc, vượt cửa thành ra đi. Ngài đến sông A-Nô-Ma, rồi xuống ngựa, lấy gươm cắt tóc giao cho Xa-Nặc đem tất cả đồ trang sức và ngựa về cung tâu với phụ vương rõ chí quyết định của Thái tử. Rồi Ngài cởi áo đổi cho một người thợ săn, cương quyết đoạn tuyệt cảnh đời xa hoa vương giả, khoát chiếc áo hoại sắc, một mình một thân đi tìm đạo.
II. THÁI TỬ HỌC ÐẠO
Trước hết Ngài đi tìm hiểu và hành trì các đạo đang lưu hành trong nước, tìm xem có đạo nào là chơn chánh giải thoát cho muôn loài.
- Thái tử hỏi đạo lần thứ nhất: Thái tử đi lần đến thành Vương Xá đến hỏi đạo các vị Tiên ở rừng Bạc Già tu theo khổ hạnh để được làm Ma Vương, Thiên Thần, được thần thông. Thái tử nhận thấy tu theo khổ hạnh lên cõi trời cũng sung sướng thật nhưng hết phước rồi sẽ đọa vào các cõi đau khổ, chưa phải là đạo chơn chánh giải thoát.
- Thái tử hỏi đạo lần thứ hai: Rồi Ngài từ giã các vị Tiên và đến phía Bắc thành Tỳ Xá Ly hỏi đạo ông A-La-La tu về Số luận, chuyên nhiếp tâm vào định Sơ thiền v.v... sanh vào cõi Trời vô tưởng, đặng giải thoát. Thái tử cũng tu theo và cũng chứng đặng cõi trời Vô tưởng nhưng Ngài nhận thấy không phải là giải thoát, nên Ngài từ tạ ra đi.
- Thái tử hỏi đạo lần thứ ba: Ngài đến hỏi ông Uất-Ðầu-Lam-Phất, chuyên dạy các sự chấp trước có hình tướng hay không hình tướng đều là sai lạc, chỉ phải lãnh thọ cái thể nhiệm mầu của muôn vật mới được giải thoát và sanh về cõi trời Phi tưởng phi phi tưởng xứ; Thái tử liền tu theo và chứng được Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Nhưng Ngài cũng nhận rằng cõi ấy chưa phải là cảnh giải thoát.
III. THÁI TỬ TU KHỔ HẠNH
Thái tử ba lần hỏi đạo, biết rằng các đạo hiện hành không có đạo nào là chơn chánh giải thoát. Ngài tự nghĩ phải chính thân hành trì chuyên tu mới có thể tìm rõ đạo chánh. Ngài liền đến rừng Ưu-Lâu-Tần-Loa phía nam núi Tượng Ðầu bên sông Ni-Liên-Thuyền và bắt đầu tu khổ hạnh với năm người bạn là Kiều Trần Như, Ác Bệ, Thập Lịch Ca Diếp, Ma Ha Nam Câu Ly và Bạc Ðề. Ngài tu trong sáu năm, cương quyết hành hạ tự thân ép xác đến nỗi mỗi ngày chỉ ăn một hột gạo một hột mè. Ngài càng tu khổ hạnh càng gầy mòn yếu ốm đến nỗi một ngày kia phải té xỉu chết giấc. Khi Ngài tỉnh dậy, Ngài hiểu rằng hành hạ xác thân quá đáng không ích gì, người cầu đạo cần phải phát chiếu trí huệ mới mong được giác ngộ. Nghĩ thế Ngài nhất định ăn uống như thường, để giữ lại cái thân làm lợi khí trong công cuộc tìm đạo giải thoát. Năm người bạn đồng tu thấy vậy tưởng Ngài thối chí nên bỏ đi.
IV. THÁI TỬ THAM THUYỀN
Khi ấy một thiếu nữ tên Tu Xà Ðề thấy Ngài nằm dưới gốc cây liền đem sữa đến dâng. Ngài dùng sữa xong, sức lực tỉnh phục, rồi xuống sông Ni-Liên-Thuyền tắm rửa sạch sẽ. Tắm xong Ngài liền đến dưới cây Bồ Ðề, trải cỏ làm nệm và ngồi tịnh tọa tham thiền luôn trong 49 ngày. Ngài thề rằng: "Nếu ta không thành đạo chứng quả thì quyết trọn đời không rời khỏi cây Bồ Ðề này".
V. THÁI TỬ THÀNH ÐẠO
Ngài định tâm chuyên chú: nhứt tâm mặc tưởng thuyền vu. Các Ma vương sợ Ngài thành đạo sẽ giác ngộ cho mọi loài bèn rủ nhau đến quyến rũ mê hoặc hại Ngài. Nhưng Thái tử định lực cao cường, nên chiến thắng tất cả sự cám dỗ cuả Ma vương.
Ðến đêm mồng Tám tháng chạp, canh một Ngài chứng quả Túc mạng minh thấy rõ kiếp trước của mình của người; canh hai chứng quả Thiên nhãn minh giác ngộ hoàn toàn cùng khắp; canh ba chứng quả Lậu tận minh diệt trừ hết thảy mê lầm vô thỉ. Ðến lúc sao mai mới mọc, Ngài liền chứng đặng đạo Vô thượng, thành Phật hiệu Thích Ca Mâu Ni. Lúc bấy giờ quả đất đều rung động nhạc trời chúc tán, mưa hoa cúng dường.
VI. ÐỨC PHẬT ÐI TRUYỀN ÐẠO
Khi Ngài mới chứng quả, Ngài còn ngần ngại chưa muốn đi truyền đạo ngay vì sợ đạo Ngài sâu xa khó hiểu. Nhưng sau Ngài phán rõ căn cơ và ứng dụng các phương tiện. Ngài mới cương quyết đem đạo Phật ra giáo hóa chúng sanh.
Trước hết, Ngài đến vườn Lộc Uyển, thuyết Bốn Ðế độ cho nhóm ông Kiều Trần Như. Bắt đầu từ đó mới có đủ Phật, Pháp, Tăng - ba ngôi báu.
Sau Ngài độ cho một thanh niên tên Da-Xá và chỉ trong ba tháng Ngài có hơn 60 đệ tử. Dưới đây là một vài đệ tử có danh, đức Phật đã giáo hóa trong khi truyền đạo:
- Ông Ca Diếp vị Tổ sư thờ lửa và các vị đồ đệ của ông.
- Vua Tần Bà Ta La xứ Ma Kiệt Ðà.
- Ông Mục Kiền Liên thần thông đệ nhất và ông Xá Lợi Phất trí huệ bậc nhất.
- Ông Nan Ðà, ông A Nan, ông Ưu Bà Ly và ông A Na Luật Ðà.
- Bà Di mẫu Ma-Ha Ba-Xà-Ba-Ðề là người đàn bà đầu tiên được đức Phật cho vào Giáo hội.
- Ông Tu-Bạt-Ðà-La hơn 80 tuổi là vị đệ tử cuối cùng của Ðức Phật.
Ðức Phật thuyết pháp giáo hóa hơn 49 năm, độ cho hàng vạn ức đệ tử, không phân biệt giàu nghèo sang hèn. Ngài thường đi thuyết pháp trong 9 tháng nắng, còn các tháng mưa thì ở lại Tịnh xá để chuyên tu.
VII. ÐỨC PHẬT NHẬP NIẾT BÀN
Ðến ngày trăng tròn tháng hai Ấn Ðộ, Ngài biết mình sắp nhập Niết bàn, liền đến xứ Câu Ly, vào rừng Xa-Nại, khiến treo võng nơi hai cây song thọ. Ngài hội họp các hành đệ tử lại giảng dạy khuyên bảo lần cuối cùng rồi từ giã mọi người nhập Niết Bàn. Ngài hưởng thọ được 80 tuổi. Trước khi Ngài viên tịch, Ngài phú chúc cho ông Ca Diếp thọ lãnh y bát của Ngài để truyền đạo.
VIII. KẾT LUẬN
Ðời Ngài từ lúc xuất gia đến lúc nhập diệt là cả một gương sáng tìm đạo, hành đạo, truyền đạo để cứu chúng sanh ra khỏi biển khổ. Ngài cương quyết đoạn tuyệt cảnh đời vương giả, dấn thân trong gian khổ để đi tìm đạo rồi lại chuyên tu khổ hạnh hơn sáu năm, tham thuyền trong 49 ngày chứng quả; rồi lại đi thuyết pháp giáo hóa hơn 49 năm để truyền đạo chơn chánh cứu khổ cho muôn loài.
(Phật Pháp Ngành Thiếu; Thích Minh Châu, Thích Ðức Tâm, Thích Thiện Ân, Thích Chân Trí)
|
| Lên trên |
|
| |
|
|